Đọc trường ca “Tự tình khúc” của Francis Assisi Lê Đình Bảng
Bùi Công Thuấn
***
Văn bản thơ (tôi đánh số khổ thơ)
Mời bạn cùng đọc:
Trường ca TỰ TÌNH KHÚC
Francis Assisi Lê Đình Bảng
1.Con vào nhà Đức Chúa Trời
Nhớ, quên. Còn, mất. Đã rơi rụng nhiều
Xét mình, còn chẳng bao nhiêu
Để làm lưng vốn mang theo, sống đời
2.Con vào nhà Đức Chúa Trời
Từ khi tấm bé, cái thời còn thơ
Quẩn quanh, nhà xứ, nhà thờ
Bữa thường khoai sắn, muối dưa lần hồi
3.Con vào nhà Đức Chúa Trời
Học ăn, học nói những lời khôn ngoan
Học trong sách thánh, Ê van
Nhờ ơn Đức Chúa Thánh Thần sáng soi
4.Con vào nhà Đức Chúa Trời
Kẻo sa cám dỗ, thói đời, thế gian
Nửa đường, vướng víu dây oan
Khi không, đứt gánh, bỏ ngang ra về
5.Người thương, bảo nó dinh tê
Ghét thì kết tội bùa mê E và
Tiếng lành, tiếng dữ đồn xa
Có căn, mới được xuất gia, tu trì
6.Dốc lòng, hỷ xả, từ bi
Nữa mai, chúa mở khoa thi, cũng là
Lễ gần, thôi lại lễ xa
Bõ công đèn sách mẹ cha truyền đời
7.Con vào nhà Đức Chúa Trời.
Tưởng đâu, cập bến, tới nơi, tới bờ
Tiếng gà xao xác ban trưa
Gió đưa cây cải… ầu ơ… ví dầu
8.(Gặp người, sao chẳng cau trầu
Ngắt bông điên điển, mời câu ân tình
Các thầy đọc tiếng La Tinh
Các cô con gái thưa kinh dịu dàng)
9.Thế là, mọi chuyện… tan hoang
Mới hay, địa ngục, thiên đàng còn xa
Thế là vỡ mộng làm cha
Chẳng qua, một giấc mơ hoa rã rời
10.Đông, Tây còn lại mấy người
Ra sông, ra biển, đi đời nhà ma
Bây giờ, mới vỡ lẽ ra
Ăn chay, nằm đất, mới là chân tu
11.Thôi về, đọc lại thiên thư
Gẫm trong truyện A lê xù vãn ca
Rằng, xưa ở xứ Roma
Có chàng trai trẻ tu nhà, ai ơi
12.Thì thôi, làm gã bố đời
Liều thân vào chốn tanh hôi mùi tiền
Chẳng làm ông bụt, bà tiên
Cũng là vạn sự tuỳ duyên đất trời
13.Nhiều khi, tôi hỏi riêng tôi
Bát cơm nhà Chúa, hạt vơi, hạt đầy
Của riêng, xin để dành, ngày cánh chung
Hạt nào, chim chóc, khe truông
Xanh um bờ bãi, cỏ lùng sinh sôi
14.Nhiều khi, tôi trách thân tôi
Bát cơm nhà Chúa, hạt rơi, hạt còn
Hạt nào ra nhánh trăm muôn
Đồng chiêm, đồng trũng, chờ xôn xao mùa
Hạt nào theo gió xa đưa
Trôi đi tít tắp, chiều mưa, trắng đồng
15.Hạt nào bay giữa thinh không
Tôi nghe sóng ở đáy sông cồn cào
Từ em bằn bặt non cao
Giấm chua, mật đắng vun vào hồn tôi
Hạt nào theo gió ra khơi
Tóc tơ, sao vội rẽ đôi phận người
16.Nhiều khi, tôi dỗ yên tôi
Treo gươm, rửa kiếm, một đời lặng câm
Hạt mừng, rơi xuống trăm năm
Hạt vui, nhung nhớ mãi thầm gọi em
Nửa đời, nửa đoạn, chưa quên
Một bên ý Chúa. Một bên tình người
17.Nhiều khi, tôi muốn buông xuôi
Hai vai gánh nặng, phương trời đăm đăm
Đêm đêm, từng giọt dương cầm
(Cung thương, tiếng mẹ. Cung trầm, tiếng cha)
Hạt ngoài, nghe thấu xương da
Hạt trong, nuốt lệ, đã nhoà nhạt thôi
18.Nhiều khi, tôi chẳng tin tôi
Thoắt trông vời vợi, người ơi, chốn nào
Hạt người, xa vắng, âm hao
Hạt ta, chìm nổi, ba đào, phù du
Hạt người, trong cõi thiên thu
Hạt ta, tro trấu tuyệt mù, dặm khơi
19.Chỉ còn mình Chúa, Chúa ôi
Để nghe thấu suốt từng lời trần gian:
“Cho tôi sinh lại một lần
Dẫu rằng mật đắng, dẫu rằng hoa thơm”
Cầm bằng, rách áo, đói cơm
Chẳng qua, vẫn chuyện Thằng Bờm, nắm xôi
20.Chắp tay, lạy bốn phương trời
Vì cây, dây quấn? Khóc người hay ta
Hạt về, bụi bặm, sương sa
Hạt đi, tan tác, lá hoa, vô thường
Trách mình, còn lắm tơ vương
Mai kia, mốt nọ, hình sương, bóng tà
21.Một mình ta, với riêng ta
Hát ngao dăm khúc tỳ bà hành thôi
Hỏi vầng trăng khuyết nghiêng soi
Nửa bên hương án, nửa nơi trai phòng
Hạt nào, nước lã ra sông
Thương ai, ngọc vỡ giữa dòng, chìm châu
22.Biển Hồ trắng xoá mưa ngâu
Emmaus chiều muộn, tìm nhau, phương nào
Trời làm một cuộc bể dâu
Mới hay, gỗ đá, vàng thau bời bời
Giữa mùa ôn dịch, chia phôi
Hỏi ai, khóc giấu, ngậm cười vì ai
23.Gánh sầu trĩu xuống hai vai
Chúa ôi, có những đêm dài trở trăn
Hạt nào, nước mắt, ăn năn
Xót xa, như để khóc thân phận mình
Cúi đầu, niệm một lời kinh
Khấng xin, Chúa đoái thương tình, Amen!
***
Tôi đã đọc đi đọc lại bài thơ. Trường ca Tình Tự Khúc mở ra nhiều lớp ý nghĩa tư tưởng – thầm mỹ trên những tấng vỉa văn hóa lớn. Câu chuyện của “cuộc bể dâu” đời người cuộn lên những lớp sóng cảm xúc hiện sinh mạnh mẽ. Những yếu tố ấy là dấu chỉ của một bài thơ hay và đậm phong cách thơ Lê Đình Bảng.
“Tự tình” là câu chuyện lòng mình. Thơ “Tự tình” cũng là thể loại đã có trong văn học Việt. “Tự tình khúc” là khúc ca tự tình, tác giả kể chuyện riêng của mình, để suy gẫm, để cầu nguyện và để chia sẻ với mọi người. Lê Đình Bảng viết “Tự Tình Khúc” bằng thể Lục bát ca dao quen thuộc, dễ tiếp nhận, bởi ca dao là câu hát dân gian người Việt được nghe từ thuở trong nôi. Vậy mà, đọc “Tự Tình Khúc”, tôi không sao định vị được bài thơ. “Tự Tình Khúc” là một bài thơ tình yêu, thơ sám hối cầu nguyện, hay là thơ “khóc thân phận mình”, kiểu thơ tư tưởng tra vấn hiện sinh?
Gánh sầu trĩu xuống hai vai
Chúa ôi, có những đêm dài trở trăn
Hạt nào, nước mắt, ăn năn
Xót xa, như để khóc thân phận mình
Cúi đầu, niệm một lời kinh
Khấng xin, Chúa đoái thương tình, Amen!
Thực ra, trong Tình Tự Khúc, cả ba thể loại Tự sự, Trữ tình và Suy tưởng lồng trong nhau, chuyển hóa, biến hóa trong cấu trúc thơ tư tưởng. Đấy là chỗ độc đáo của tư duy thơ Lê Đình Bảng. Điểm lại, Nguyễn Bính thường kể (tự sự) những câu chuyện tình bằng Lục bát dân dã (Tương tư, Lỡ bước sang ngang, Người hàng xóm…). Thơ tình Xuân Diệu là tiếng lòng thi nhân (thơ trữ tình: Tương tư chiều, Khi chiều giăng lưới, Vội vàng…), Chế Lan Viên suy tưởng về những vấn đề có tính chất tra hỏi triết lý (Cái sọ người, Làm Hăm-lét ở Việt Nam, Bánh vẽ…). Lê Đình Bảng tạo ra thế giới nghệ thuật bằng sự tổng hợp cả ba kiểu tư duy sáng tạo tưởng như trái ngược nhau ấy.
***
Khổ thơ mở đầu là suy tư, là “xét mình” (chữ của nhà đạo) ở hiện tại. Tác giả nhận ra vốn liếng đời tu (tu đức, triết học, thần học, nếp sinh hoạt) chẳng còn bao nhiêu.
Con vào nhà Đức Chúa Trời
Nhớ, quên. Còn, mất. Đã rơi rụng nhiều
Xét mình, còn chẳng bao nhiêu
Để làm lưng vốn mang theo, sống đời
Xin lưu ý, chữ “vào nhà Đức Chúa Trời” có nghĩa thánh thiêng hơn chữ “đi tu”.
Sau đó tác giả kể lại hành trình chuyên chăm tu học của mình. Ngay từ bé, cậu tu sinh ấy chỉ biết rèn mình trong môi trường nhà Chúa: “Quẩn quanh, nhà xứ, nhà thờ/ Bữa thường khoai sắn, muối dưa lần hồi”. Mục đích “vào nhà Chúa” là để học “những lời khôn ngoan” trong sách thánh (Evang), để “Kẻo sa cám dỗ, thói đời, thế gian”(người đi tu phải chống lại “ba thù” là thế gian, ma quỷ, xác thịt).
Trong nhà Chúa, mọi sự đều rất tốt đẹp, thánh thiện: “Các thầy đọc tiếng La Tinh/ Các cô con gái thưa kinh dịu dàng”. Môi trường thánh thiện ấy là động lực cho cậu (tác giả) tu tập. Tác giả mượn cách nói dân gian: “Dốc lòng, hỷ xả, từ bi/ Nữa mai, chúa mở khoa thi, cũng là / Lễ gần, thôi lại lễ xa/ Bõ công đèn sách mẹ cha truyền đời”. Những tưởng theo Chúa là con đường tiến thẳng lên bàn thánh. Nhưng rồi “vỡ mộng làm cha”.
Tưởng đâu, cập bến, tới nơi, tới bờ
Tiếng gà xao xác ban trưa
Gió đưa cây cải… ầu ơ… ví dầu
Lê Đình Bảng dùng hình ảnh ca dao trong phép so sánh ví von:“Tiếng gà xao xác ban trưa/ Gió đưa cây cải… ầu ơ… ví dầu”. Tiếng gà xao xác và tiếng “ầu ơ…ví dầu”, tạo nên không gian thôn dã, nhưng cũng cũng là thế giới tâm hồn rũ buồn một nỗi niềm thầm kín. Ca dao có lời than thở: “Gió đưa cây cải về trời/ Rau răm ở lại chịu lời đắng cay”. Cái đọng lại là những “lời đắng cay” không thể nói ra.
Nửa đường, vướng víu dây oan
Khi không, đứt gánh, bỏ ngang ra về
Nhà thơ nói rõ lý do mình “bỏ ngang ra về”, là vì: “Nửa đường vướng víu dây oan”, tình cờ không ngờ trước: “Khi không, đứt gánh…”. Thấp thoáng câu thơ Kiều (Đoạn trường tân thanh-Nguyễn Du) về sự gẩy đổ bất ngờ cuộc tình Kiều với Kim Trọng. “vướng víu dây oan” là dính mắc chuyện tình yêu, là sợ dây oan nghiệt. Nguyễn Du viết: “Tu là cội phúc, tình là dây oan”(Đoạn trường tân thanh, câu 2658).
Đúng là, vì chuyện tình mà bỏ Chúa thì “tội lỗi” quá! Với giáo dân Việt, đó là điều không thể chấp nhận. Bởi vì Chúa là tuyệt vời cao trọng. Đổi Chúa lấy tình thì con người đó (về nhân cách) thật tồi tệ; bán Chúa lấy tình (chẳng khác gì Giuda bán Chúa lấy 30 đồng bạc-Mt 26, 15) là trọng tội vì làm tổn hại đến Giáo hội. Người vào nhà Chúa, đã ăn cơm nhà Chúa, mà bỏ Chúa, là làm mất danh dự Giáo hội, làm gương xấu cho mọi người. Tôi lỗi! Tội lỗi!
Nhưng phẩm tính nhân bản của con người là “yêu người”. Chữ Nhân đứng đầu trong “ngũ thường” của Nho giáo, cũng là đạo lý dân tộc: “Thương người như thể thương thân”, và đó cũng là điều răn trọng đại Đức Giêsu nói với ngưới thông luật. “… Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Tất cả Luật Mô-sê và các sách Ngôn sứ đều tùy thuộc vào hai điều răn ấy”(Mt 22, 39)… Yêu cũng là bản năng sinh tổn của con người mà tạo hóa đã đặt để (tức là, đến tuổi nào đó, con người có nhu cầu và khát vọng yêu). Cho nên người thơ nếu có “vướng víu dây oan”(chữ nhà Phật) cũng là thường tình. Và việc bỏ tu hành để trở về sống đời thường là sự chọn lựa khôn ngoan nếu điều đó là ý Chúa. Linh mục hướng dẫn sẽ giúp tu sinh tìm hiểu ơn gọi của Chúa.
Dù vậy, không thể tránh khỏi “tiếng đời”. Người ta trọng vọng “Chủng sinh” bao nhiêu thì người ta đàm tiếu dè bỉu người “tu xuất” bấy nhiêu. Dân gian còn cho rằng những người xuất tu tất cả đều có số phận chẳng ra gì. Vì họ ăn cơm nhà Chúa mà bỏ Chúa. Trong nhà Chúa, người ta gọi Chủng sinh là “thầy”, giờ họ gọi người tu xuất là “nó”, và ném đá vào “nó”. Xuất tu vì “bùa mê E và”(gái bỏ bùa) thì thật đáng xấu hổ.
Người thương, bảo nó dinh tê
Ghét thì kết tội bùa mê E và
Tiếng lành, tiếng dữ đồn xa
Có căn, mới được xuất gia, tu trì
Thế là, mọi chuyện… tan hoang
Mới hay, địa ngục, thiên đàng còn xa
Nhưng “chuyện tình” của người thơ đã xảy ra thế nào? Tác giả chỉ kể lướt qua:
Gặp người, sao chẳng cau trầu
Ngắt bông điên điển, mời câu ân tình
Cuộc gặp gỡ thật giản dị, chẳng cần cau trầu nghi lễ, chỉ “ngắt bông điên điển” đã đủ làm nên ân tình. Tứ thơ thật lạ, bởi chuyện tình Việt xưa nay khởi đầu bằng “mời trầu” (bài thơ Mời trầu của Hồ Xuân Hương). Tôi chưa nghe nói người ta dùng bông điên điển để ngỏ lời bao giờ. “Mời trầu” là đặc trưng tỏ tình của văn hóa Bắc, còn bông điên điển là loài hoa đặc trưng vùng sông nước Nam bộ, gắn liền vời món ăn canh chua cá lóc, cá linh. “Ngắt bông điên điển” để tỏ tình vừa mới lạ, vừa gợi ra sinh hoạt của dân quê Nam bộ mùa nước nổi. “Chuyện tình” “bông điên điển” của người thơ gắn bó đậm đặc với hương vị quê hương. Xin lưu ý, tình yêu nam nữ trong thơ ca Việt luôn khởi phát và thủy chung với đời sống và cảnh sắc quê hương (xin đọc ca dao: Hôm qua tát nước đầu đình…). Lê Đình Bảng đã đặt tình yêu lứa đôi của mình vào giữa truyền thống thơ Việt.
Người thơ không kể tiếp “chuyện tình” ấy diễn ra thế nào trong đời thực, mà chỉ gợi ra cái vẻ đẹp của tình quê dân dã. Phải chăng cách “né tránh” ấy là để “nhẹ tội” bỏ ngang việc tu hành? Hay là dụng ý nghệ thuật? Vâng, đó là chỗ tuyệt bút của nghệ thuật lãng mạn: sự việc được nhìn qua lăng kính của “Cái đẹp”, dù đó là điều bi đát. Nhờ thế, “Chuyện tình” Lê Đình Bảng không có cái “mùi vị da thịt” của thơ tình Xuân Diệu, không là tiếng kêu thống thiết “Mật đắng, máu cuồng và hồn điên” của thơ Hàn Mạc Tử. Nhưng cuộc tình ấy thật sâu đậm
Một mình ta, với riêng ta
Hát ngao dăm khúc tỳ bà hành thôi
Hỏi vầng trăng khuyết nghiêng soi
Nửa bên hương án, nửa nơi trai phòng
Hạt nào, nước lã ra sông
Thương ai, ngọc vỡ giữa dòng, chìm châu
Lê Đình Bảng tổng hợp tư tưởng, thi pháp và cảm xúc của ba nguồn thi ca- tư tưởng đồ sộ để diễn đạt mối tình sâu nặng của mình.
Đó là câu chuyện cảm động về người kỹ nữ trong Tỳ Bà Hành [[1]] của Bạch Cư dị, là tâm trạng chờ mong vô vọng của nàng Kiều sau khi chia tay Thúc Sinh: “Vầng trăng ai xẻ làm đôi,/ Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường”[[2]] trong truyện Kiều của Nguyên Du. Và nhiều câu ca dao nói về thân phận phụ nữ (thí dụ: Thân em là hạt mưa sa/ Hạt vào đài các hạt ra cánh đồng…). Lê Đình Bảng khám phá, sáng tạo thêm một tứ thơ giàu phẩm chất ca dao nhưng rất mới, hàm nhiều ý nghĩa: “Hạt nào, nước lã ra sông”.
“Nước lã” là thứ vô giá trị (thí dụ, tục ngữ: “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”). Một hạt mưa rơi xuống sông thành nước lã, tan biến và trôi đi vô vọng. Đó là hình ảnh của sự phũ phàng đối với thân phận phụ nữ. Nhưng mà “người yêu” ấy của nhà thơ là “ngọc”, một viên ngọc bị vỡ tan, chìm sâu trong dòng đời. Đáng thương biết bao nhiêu! Vì thế “chuyện tình” đã để lại nỗi day dứt mãi như “khối tình Trương Chi” (Chuyện tình Trương Chi-Mị Nương [[3]]).
Quả thực, đọc thơ Lê Đình Bảng không dễ chút nào nếu không hiểu đến ngọn ngành văn hóa Việt và tư tưởng, thi pháp thơ phương Đông. Nhưng hạnh phúc của người đọc là cảm thụ được những khám phá tư tưởng-thi pháp như thế. Và phẩm chất thi sĩ của Lê Đình Bảng chính là ở năng lực sáng tạo những tứ thơ mới mẻ vừa truyền thống vừa dân dã, lại vừa sang trọng mà không phải nhà thơ nào cũng có được.
“Tình Tự Khúc” là chuyện của một người xuất tu. Cuộc trở về trần gian của nhà thơ như cuộc trở về của Từ Thức xưa. Đành vậy. “Thì thôi, làm gã bố đời/ Liều thân vào chốn tanh hôi mùi tiền”. Ba chữ “thì thôi”, “liều thân” và “gã bố đời” cực tả sự bế tắc, vô vọng, buông xuôi và thái độ bực bội (có cả chửi đời: mả bố đời) của người thơ khi trở về đời trần tục kiếm sống, phải lăn mình vào “chốn tanh hôi mùi tiền”.
Nhưng điều ấy không là “bi kịch” của người thơ, bởi kiếm sống không bao giờ là dễ Dàng. Nó là lời nguyền của Thiên Chúa đối với nguyên tổ ghi trong Sách Sáng thế. “ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi, mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra..”(St 3, 17).. “Bi kịch” của nhà thơ là sự đối kháng trong việc chọn Chúa (đời tu) làm lý tưởng và một bên là chọn một “người yêu” trần gian mà bỏ Chúa. Lê Đình Bảng không ngừng tra hỏi hiện sinh:
Nhiều khi, tôi hỏi riêng tôi
Bát cơm nhà Chúa, hạt vơi, hạt đầy
Nhiều khi, tôi trách thân tôi
Bát cơm nhà Chúa, hạt rơi, hạt còn
Nhiều khi, tôi dỗ yên tôi
Treo gươm, rửa kiếm, một đời lặng câm
Nhiều khi, tôi muốn buông xuôi
Hai vai gánh nặng, phương trời đăm đăm
Nhiều khi, tôi chẳng tin tôi
Thoắt trông vời vợi, người ơi, chốn nào
Một mình ta, với riêng ta
Gánh sầu trĩu xuống hai vai
Chúa ôi, có những đêm dài trở trăn
Kiểu tư duy, cấu tứ trùng điệp, kết hợp với điệp từ, diễn tả được nỗi trăn trở khôn nguôi của người thơ. Thời gian và không gian miên viễn, quá sức chịu đựng của con người. Số phận con người là số phận cô độc “Một mình ta, với riêng ta”, không người chia sẻ. Người thơ phải kêu lên: “Gánh sầu trĩu xuống hai vai,/ Chúa ôi, có những đêm dài trở trăn”. Phép đảo “Gánh sầu trĩu nặng” lên trước tiếng kêu “Chúa ôi” góp thêm sức nặng cho sự yếu đuối của người thơ.
“Gánh sầu trĩu nặng” ấy là gì mà đem đến “bi kịch đau đớn” cho nhà thơ? Điều gì là
“Giấm chua, mật đắng vun vào hồn tôi”? Để, đến nỗi “tôi trách thân tôi”…“tôi muốn buông xuôi,… tôi chẳng tin tôi”, tôi “Chắp tay, lạy bốn phương trời/ Vì cây, dây quấn? Khóc người hay ta”. Sau cùng, tất cả là nước mắt ăn năn: “Hạt nào, nước mắt, ăn năn/ Xót xa, như để khóc thân phận mình”
Quả là một cuộc đấu tranh tư tưởng mệt nhoài, trái tim bị thiêu đốt như ở trong địa ngục (“Mới hay, địa ngục, thiên đàng còn xa”), không sao thoát ra được những dính mắc (chữ của nhà Phật), những dây trói (Nghiệp) quanh phận người “Vì cây, dây quấn? Khóc người hay ta”, chỉ còn là nước mắt.
Đó là mâu thuẫn bi kịch, một bên là tiếng gọi của Chúa, là ơn Chúa là mắc nợ nhà chúa, một bên là tình yêu, và người yêu đã không còn nữa
Nửa đời, nửa đoạn, chưa quên
Một bên ý Chúa. Một bên tình người…
…Trời làm một cuộc bể dâu
Mới hay, gỗ đá, vàng thau bời bời
Giữa mùa ôn dịch, chia phôi
Hỏi ai, khóc giấu, ngậm cười vì ai
“Bi Kịch” này được nhà thơ miêu tả rất thực, rất sâu sắc nồng nàn, khiến cho lửa từ trái tim nhà thơ có thể làm cháy lên những cảm xúc trong tâm hồn người đọc. Nhưng cuộc đời là thân phận hiện sinh, “Một mình ta, với riêng ta”. Con người phải tự mình mang lấy “Gánh sầu trĩu xuống” phận mình, may ra chỉ kêu lên được một tiếng “Chúa ôi!” gần như tuyệt vọng (Phê rô ngày xưa khi bị chìm xuống nước còn kêu được tiếng: “Thầy ơi cứu con”-Mt 14, 30). Nói như thế để thấy tài thơ của Lê Đình Bảng khi miêu tả bi kịch của Con người. Đó là “bi kịch” Đức tin và đời sống, cũng là vấn nạn Giáo hội phải đối mặt trong suốt trường kỳ lịch sử.
Nói đến “tài năng thi ca” của Lê Đình Bảng là nói đến tài thơ phong phú, hồn thơ khoáng đạt, thơ kết tụ đa tầng vỉa văn hóa; cũng là tài sử dụng ngôn ngữ, là kiểu tư duy thơ rất riêng và khai mở một con đường chưa ai đi.
Quan sát ngôn ngữ thơ của ông, có một sự biến hóa đầy trí tuệ, đầy phẩm chất thi ca và sâu nặng tư tưởng trong từng câu chữ rất dân dã. Có sự chuyển hóa Mỹ học rất tinh diệu giữa Ca dao dân ca, Kinh thánh và Thiền; có sự tổng hợp “Cái Đẹp” (Thi pháp) giữa chất trí tuệ của thơ cổ điển với cái mộc mạc chân chất của ca dao và thế giới thần học kỳ vĩ của Kinh thánh. Chính sự kết tinh này tạo nên phong cách thơ Lê Đình Bảng mà trước và sau ông chưa có nhà thơ Công giáo nào kế tục được.
Thí dụ.
Nhiều khi, tôi hỏi riêng tôi
Bát cơm nhà Chúa, hạt vơi, hạt đầy
“Bát cơm, hạt cơm ” trong câu thơ trên, nghĩa tường minh, là cơm nhà nhà tu (nghĩa tường minh này đã thấp thoáng ca dao: “Ai ơi bưng bát cơm đầy/ Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”). Câu thơ hàm ý món nợ vất chất của nhà thơ với nhà Chúa.
“Hạt cơm” ấy chuyển hóa thành “hạt giống” trong dụ ngôn Người gieo giống (Lc 8, 4-15). Từ đó nhà thơ nói về sự chuyển hóa Lời Chúa trong tâm hồn mình (Khổ thơ 13, 14). Rồi sự biến hóa Mỹ học diễn ra tự nhiên và nhanh đến nỗi người dọc không kịp nhận ra, đó là: “Hạt mừng, hạt vui” diễn tả những nỗi niềm, “Hạt ngoài, hạt trong” là hạt nước mắt thương thân, “Hạt người, hạt ta” là hạt tư tưởng, “Hạt về, hạt đi” là người thơ và người yêu, “Hạt nào, nước lã…”; “Hạt nào, nước mắt”…là vô tận đau khổ…Từ hạt cơm cụ thể, nhỏ bé ấy, thơ chuyển hóa thành phận người “trong cõi thiên thu”, vừa diễn đạt ý niệm Kinh thánh con người là tro bụi (tác giả dùng từ “tro trấu” để Việt hóa Kinh thánh), vừa nói cái “Vô thường” trong không gian, thời gian vô tận (Phật giáo) của kiếp người.
Hạt người, trong cõi thiên thu
Hạt ta, tro trấu tuyệt mù, dặm khơi
Cho nên, Tự Tình Khúc không nói đến khái niệm “Tội lỗi” như trong Thần học Kitô giáo, mà trình bày “Cái bi kịch” tư tưởng của phận người mà con người không sao thoát ra được. Bi kịch tình yêu cuộc đời và lý tưởng hiến dâng cuộc đời cho Chúa. Đời thì rất thực, còn Chúa thì, người thơ chỉ kêu được một tiếng “Chúa ôi”, mà không xin “Thầy ơi cứu con”.
Gánh sầu trĩu xuống hai vai
Chúa ôi, có những đêm dài trở trăn
Hạt nào, nước mắt, ăn năn
Xót xa, như để khóc thân phận mình
Cúi đầu, niệm một lời kinh
Khấng xin, Chúa đoái thương tình, Amen!
Điều ấy có nghĩa là, Lạy Chúa, Thánh giá Chúa trao, “gánh sầu trĩu xuống” ấy, thì con xin vác lấy. Chỉ xin “Chúa đoái thương tình”.
Thật lạ! Thông thường, người ta viết xin “Chúa đóai thương”, hoặc “xin Chúa thương tình”, tại sao Lê Đình Bảng lại viết “Chúa đoái thương tình”, mà không cầu xin tha thứ tội “bỏ ngang ra về” giữa đường tu?
Thí dụ.
Trong khi suy tưởng, Lê Đình Bảng sử dụng tư duy chính luận (lập luận, lý giải, để tìm ra chân lý của vấn đề). Bỏ nhà Chúa vì tội bùa mê E và, trở về sống đời trần gian, “Liều thân vào chốn tanh hôi mùi tiền”, đâu là đúng, đâu là sai? Thôi thì giải thích bằng suy nghĩ: Chúa không chọn: “Có căn, mới được xuất gia, tu trì. Thông thường, trong một bài thơ, nếu tư duy và ngôn ngữ chính luận là chính, thì chất chính luận sẽ lấn át hình tượng-thầm mỹ…, nhưng trái lại, Lê Đình Bảng lại dẫn người đọc đi qua nhiều cánh đồng thẩm mỹ mà màu sắc nghệ thuật hết sức đa dạng.
Nhiều khi, tôi trách thân tôi
Bát cơm nhà Chúa, hạt rơi, hạt còn
Hạt nào ra nhánh trăm muôn
Đồng chiêm, đồng trũng, chờ xôn xao mùa
Hạt nào theo gió xa đưa
Trôi đi tít tắp, chiều mưa, trắng đồng
Màu sắc thẩm mỹ trong khổ thơ này chuyển hóa diệu kỳ. Từ “Bát cơm nhà Chúa’ , với những hạt cơm thật mà tác giả đã ăn, Lê Đình Bảng chuyển cảnh, vẽ ra dụ ngôn Người gieo giống trong Kinh thánh “ra nhánh trăm muôn” những hạt giống Lời Chúa. Liền ngay đó là cảnh sắc đồng quê Việt Nam “đồng chiêm, đồng trũng xôn xao” vào mùa. Cảnh vui được mùa ấy lại chuyển ngay sang cảnh “…tít tắp, chiều mưa, trắng đồng”. Những cảnh sắc ấy là những ần tượng sâu đậm trong lòng người Việt, chất chứa sâu nặng tình trời, tình quê.
Màu sắc thẩm mỹ trong khổ thơ sau đây, cũng ảo diệu như vậy.
Biển Hồ trắng xoá mưa ngâu
Emmaus chiều muộn, tìm nhau, phương nào
Trời làm một cuộc bể dâu
Mới hay, gỗ đá, vàng thau bời bời
Giữa mùa ôn dịch, chia phôi
Hỏi ai, khóc giấu, ngậm cười vì ai.
Nhà thơ đem người đọc đến Biển hồ (trong Kinh thánh là biển hồ Galilee) trong một chiều muộn, trắng xóa mưa ngâu. Đây là một cảnh sắc phương tây, nhưng được Việt hóa bằng hình ảnh “trắng xóa mưa ngâu” (mưa ngâu gợi ra chuyện tình Ngưu lang Chức Nữ). Lại dẫn người đọc đi trên đường Emmaus trong chiều muộn, để “tìm nhau”. Câu chuyện trên đường Emmaus trong Kinh thánh trở thành ẩn dụ để nói chuyện tình yêu. Hai tông đồ đã gặp Chúa hiện ra khi đi đường, nhưng không nhận ra Người (Lc 24, 13-35). Màu sắc thẩm mỹ chuyển ngay sang cảnh sắc tư tưởng phương đông: “Trời làm một cuộc bể dâu” (Nguyễn Du viết: “Trải qua một cuộc bể dâu”-Truyện Kiều). Những chìm nổi dâu bể mà người thơ gặp phải trong đời là do “trời làm”(không phải Chúa!). Trở về với thực tại “mùa ôn dịch”, người thơ khóc thầm vì người thân yêu qua đời (“Hỏi ai, khóc giấu, ngậm cười vì ai.”). Hảnh trì tư duy thơ như vậy đã mở ra những chiều kích rất rộng trong không gian, thời gian, tư tưởng và thầm mỹ. Thơ Lê Đình Bảng ẩn hiện chất trí tuệ, giàu tầng vỉa văn hóa, lấp lánh nhiều sắc mày nghệ thuật và tươi mới nguyên sơ vẻ đẹp của đời sống Việt.
Chia sẻ với bạn đọc.
Thường thì, khi đọc những bài thơ tự tình, người đọc chú ý khám phá đời sống riêng tư của tác giả, tìm xem những yếu tố nào của đời thực tác giả ảnh hưởng tới hành trình sáng tạo cùa nhà thơ. Chẳng hạn, để đọc thơ Hàn Mặc Tử, bạn đọc không thể bỏ qua những chuyện tình của nhà thơ họ Hàn với Mộng cầm, Hoàng Cúc, Mai Đình, Thương Thương, Ngọc Sương, Thanh Huy, Mỹ Thiện… Và, bịnh Phong của Nguyễn Trọng Trí giúp lý giải nhiều đặc điểm thơ Hàn Mạc Tử. Nhưng nếu đọc Tự Tình Khúc để tìm hiểu đời tư Lê Đình Bảng, thì bạn sẽ thất bại. Vì tuy kể lại đời thực của mình: chuyện đi tu, chuyện bỏ tu “vì tội bùa mê E và”, nhưng cảm hứng thơ Lê Đình Bảng là cảm hứng lãng mạn. Cảm hứng này nhấc bổng Lê Đình Bảng lên, bay trong bầu trời nghệ thuật của riêng mình. Lê Đình Bảng không kể lại chuyện đời mình bằng bút pháp “Tả thực”. Chẳng hạn, ông đi tu ở đâu, thời gian bao lâu, hoàn cả xã hội lúc ông ở trong nhà tu thế nào? Chuyện tình đã xảy ra thế nào, với ai? Ở đâu, điều gì khiến ông phải bỏ tu, và mùa dịch năm nào, ông đã phải “Hỏi ai, khóc giấu, ngậm cười vì ai”. Tất cả những chi tiết hiện thực cần cho việc tìm hiểu tác giả như thế đều không có câu trả lời.
Điều ấy giúp ta nhận ra Tự Tình Khúc là thơ tư tưởng, không phải là thơ kể chuyện đời tư.. Lê Đình Bảng miêu tả cái “bi kịch” của đời người. Gọi là “bi Kịch” khi khát vọng muốn vươn tới trong hiện thực lại bị hoàn cành đè bẹp. Con người lâm vào trạng thái bi phẫn mà không thoát ra được. Lê Đình Bảng “vào nhà Chúa” là để học điều khôn ngoan của Kinh thánh. Ấy là “tìm kiếm Nước Thiên Chúa” (Mt 6, 33). Nhưng người thơ lại “bỏ ngang” hành trỉnh này, để rồi lại dính mắc vào “bùa mê E và”. Rồi tình yêu này cũng là “ngọc vỡ giữa dòng, chìm châu”. Cả hai “khát vọng” của đời người này đều bị hoàn cảnh đè bẹp. Cả hai nỗi bi phẫn này cháy khôn nguôi ngọn lửa thiêu đốt tâm can. Người thơ soi vào mình, đối diện với thân phận cô đơn, Một mình ta, với riêng ta, tự mình phải gánh lấy “Gánh sầu trĩu xuống hai vai”. May mà còn chút lòng tin, nhà thơ kêu lên:“Chỉ còn mình Chúa, Chúa ôi”, và thái độ chân thành: “Cúi đầu, niệm một lời kinh/ Khấng xin, Chúa đoái thương tình, Amen!”.
Thơ Lê Đình bảng, mỗi lời thơ là một hạt châu lấp lánh sắc màu thẩm mỹ và tư tưởng. Ngôn ngữ và tư duy ấy tạo nên phong cách riêng của Thơ ông. Và ông đã định vị một đỉnh thi sơn mới của thơ ca Công giáo sau Hàn Mạc Tử. Sẽ khó có người vượt qua con đường tư tưởng và nghệ thuật của ông, trừ khi họ khám phá được một con đường thi ca khác, rộng mở hơn, mới mẻ hơn. Vì thế, Tự Tình Khúc mở ra nhiểu ngả đường giúp người đọc khám phá cốt cách và giá trị thơ Lê Đình Bảng, đặc biệt là những đóng góp của thơ ông vào sự phát triển thơ ca Việt đương đại. (Với một bài viết ngắn, tôi đã không thể nói cặn kẽ những độc đáo của thơ Lê Đình Bảng. Những gì đã đọc được chỉ là một ít gợi mở về thơ ông).
Tháng 1/ 2026
[1] Tỳ Bà Hành-Bạch Cư Dị
thivien.net/Bạch-Cư-Dị/Tỳ-bà-hành/poem-7Jx-9zMDy2CyYi7fIk3zRA
[2] Đoạn trường tân thanh-Nguyễn Du, câu 1525-1526
[3] Truyện Trương Chi-Mị Nương
https://loigiaihay.com/truong-chi-my-nuong-truyen-co-tich-viet-nam-a186612.html