TỪ BÀN TIỆC THÁNH ĐẾN CUỘC ĐỜI HIẾN DÂNG
Trong đời sống Kitô giáo, Bí tích Thánh Thể vừa là nguồn mạch vừa là chóp đỉnh của toàn thể đời sống Hội Thánh (x. LG 11). Thánh Thể không chỉ là hành vi tạ ơn của Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha trong Bữa Tiệc Ly, nhưng còn là lời tạ ơn không ngừng của Hội Thánh, được cử hành, được sống và được kéo dài trong đời sống hằng ngày của các tín hữu, cách riêng trong đời sống thánh hiến. Bài viết sau đây sẽ trình bày về ý nghĩa tạ ơn của Bí tích Thánh Thể trong Kinh Thánh, trong Giáo huấn của Hội Thánh, cũng như tinh thần của Thánh Phêrô Giulianô Eymard và trong đời sống thánh hiến.
-
Thánh Thể – ý nghĩa tạ ơn trong Kinh Thánh
Ngay từ Cựu Ước, chiều kích tạ ơn đã giữ vị trí quan trọng trong đời sống phụng tự của dân Israel. Trong luật Môsê, hy lễ tạ ơn được đặt trong nhóm các hy lễ hiệp thông, diễn tả mối tương quan giao ước giữa Thiên Chúa và dân Người (Lv 7,11-15). Hy tế này không chỉ nhằm diễn tả lòng biết ơn đối với Thiên Chúa vì những ân huệ Người ban, mà còn là dấu chỉ của giao ước và sự gắn bó trọn vẹn với Người (Lv 7,12-15; Tv 116,12-19). Dân Israel được mời gọi dâng hy lễ tạ ơn để ca tụng và cảm tạ Thiên Chúa vì những kỳ công Ngài đã thực hiện, đặc biệt là biến cố Xuất Hành. Việc dâng lễ tạ ơn bao hàm thái độ đức tin của dân Chúa, đó là việc nhận ra mọi sự mình có đều đến từ Thiên Chúa và quy hướng về Người. Các Thánh vịnh thường xuyên diễn tả tâm tình tạ ơn vì lòng nhân hậu và tình yêu vững bền của Đức Chúa, lời tạ ơn không chỉ hát lên lúc bình an nhưng ngay cả trong những lúc thử thách và đau khổ (Tv 116; 136). Những hy lễ tạ ơn này vừa là lời ca tụng vừa là sự phó thác trọn vẹn đời sống cho Thiên Chúa, chuẩn bị cho hy lễ hoàn hảo trong Tân Ước.
Đỉnh cao của mặc khải về ý nghĩa tạ ơn của Thánh Thể được thể hiện nơi hy tế của Chúa Giêsu trong cuộc Vượt Qua. Lời nguyện của Chúa Giêsu tại Bữa Tiệc Ly không chỉ là lời cảm tạ trong một hoàn cảnh đặc biệt, nhưng phản ánh toàn bộ đời sống hiến dâng và tạ ơn của Người. Vì sống trong truyền thống của dân Israel, Chúa Giêsu cũng thấm nhuần tinh thần đạo đức của dân tộc mình, một dân tộc luôn thể hiện tinh thần chúc tụng và tri ân Thiên Chúa trong từng sự việc lớn nhỏ của cuộc sống hằng ngày. Toàn bộ đời sống của Chúa Giêsu, vì thế có thể được hiểu như một hành vi tạ ơn liên lỉ dâng lên Chúa Cha.
Trong Bữa Tiệc Ly, trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Chúa Giêsu đã “cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra và trao cho các môn đệ” (Lc 22,19; 1Cr 11,24). Hành động “dâng lời tạ ơn” này không chỉ là một nghi thức quen thuộc trong bữa ăn của người Do Thái, nhưng là cử chỉ mang chiều kích cứu độ: Chúa Giêsu dâng trọn cuộc đời mình như một lời tạ ơn hoàn hảo lên Chúa Cha, đồng thời biến cái chết trên thập giá thành Hy lễ yêu thương và cứu độ. Thánh Gioan còn cho thấy chiều kích này qua diễn từ Bánh Hằng Sống, khi Chúa Giêsu khẳng định Người chính là bánh từ trời xuống, bánh ban sự sống cho thế gian (Ga 6, 51). Qua cái chết trên thập giá và sự phục sinh, Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha hy lễ trọn hảo và được Chúa Cha đón nhận. Mầu nhiệm này được hiện tại hóa trong mỗi cử hành Thánh Thể. Thánh Thể được hiểu như hy tế tạ ơn trọn hảo, trong đó Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha toàn bộ đời sống, đau khổ và cái chết của Người trong tình yêu và sự vâng phục tuyệt đối.
-
Thánh Thể – Lời tạ ơn trong giáo huấn của Hội Thánh
Trong sách Didachê, một trong những văn kiện cổ xưa nhất của Hội Thánh sơ khai, Thánh Thể được trình bày trước hết như hành vi tạ ơn của cộng đoàn Kitô hữu. Các kinh nguyện trên chén rượu và bánh đều mở đầu bằng lời tạ ơn dâng lên Chúa Cha vì những ân huệ Người ban qua Chúa Giêsu Kitô, đặc biệt là sự sống, sự hiểu biết và ơn quy tụ Hội Thánh. Hình ảnh bánh được gom lại từ những hạt lúa tản mác diễn tả rõ chiều kích hiệp nhất và cánh chung của lời tạ ơn: Hội Thánh tạ ơn không chỉ vì ơn cứu độ cá nhân, nhưng vì được quy tụ thành một dân duy nhất trong nước Thiên Chúa. Như thế, Didachê cho thấy ngay từ buổi đầu, Thánh Thể đã được hiểu là lời tạ ơn được sống, bao trùm toàn bộ đời sống Hội Thánh và hướng về sự viên mãn mai sau.[1]
Trong Thánh Thể, Hội Thánh hiệp thông với Hy tế tạ ơn của Chúa Kitô, Đấng đã tự hiến cho nhân loại, Hy tế ấy được hiện tại hóa cách bí tích trong mỗi thánh lễ. Vì thế, mỗi thánh lễ là lời tạ ơn của toàn thể Hội Thánh dâng lên Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, trong Chúa Thánh Thần.
Vào thời các Giáo phụ, thuật ngữ “Tạ ơn” đã được dùng để chỉ chính thánh lễ. Điều này cho thấy Hội Thánh sơ khai ý thức sâu xa rằng cử hành Thánh Thể chính là hành vi tạ ơn cao cả nhất. Thánh Justinô nói rằng: “Ngày của Chúa, anh em hãy tụ họp lại để bẻ bánh và để tạ ơn”. Lý do để tạ ơn vừa liên hệ đến công cuộc sáng tạo vừa liên hệ đến công cuộc cứu độ nhờ Chúa Giêsu.[2] Trong truyền thống phụng vụ cổ xưa, như Kinh Tạ Ơn của Thánh Hippolytô thành Rôma, cấu trúc Ba Ngôi của lời tạ ơn được thể hiện rõ: Hội Thánh tạ ơn Chúa Cha vì công cuộc cứu độ của Chúa Giêsu, trong Chúa Thánh Thần.[3]
Giáo huấn của Hội Thánh qua các thời đại luôn nhấn mạnh chiều kích tạ ơn của Thánh Thể. Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo trình bày Thánh Thể như hy tế tưởng niệm, hy tế hiệp thông và hy tế tạ ơn (GLCG, 1362-1372). Thánh Thể trước hết là lễ tạ ơn và chúc tụng Chúa Cha vì công trình tạo dựng, cứu chuộc và thánh hóa (GLCG, 1359). Lời tạ ơn này đạt tới mức viên mãn nơi Chúa Kitô, Đấng vừa là tư tế, vừa là hy lễ, vừa là Đấng được dâng lên. Nhờ sự hiện diện thật sự của Chúa Kitô dưới hình bánh rượu, Hội Thánh không chỉ tưởng niệm quá khứ, nhưng bước vào trong hiện tại cứu độ, nơi lời tạ ơn trở thành một thực tại sống động và biến đổi. Các từ Eucharistein (Lc 22,19; 1Cr 11,24) và Eulogein (Mt 26,26; Mc 14,22) nhắc lại những lời chúc tụng của dân Do Thái – nhất là trong bữa ăn – để tung hô các kỳ công của Thiên Chúa: tạo dựng, cứu chuộc và thánh hóa (GLCG, 1328). Như vậy, tạ ơn không chỉ là lời nói hay tâm tình, nhưng là hành vi hiến dâng trọn vẹn của Chúa Kitô, được Hội Thánh kết hiệp và tiếp nối trong đời sống phụng vụ cũng như trong cuộc sống thường ngày của các tín hữu.
Đức Bênêđictô XVI, trong tông huấn Sacramentum Caritatis (số 84) cũng làm nổi bật mối liên hệ chặt chẽ giữa Thánh Thể và sứ vụ của Hội Thánh: Thánh Thể như lời tạ ơn mời gọi người Kitô hữu sống một đời sống được biến đổi, trở nên quà tặng cho tha nhân. Đặc biệt, Thánh Gioan Phaolô II nhấn mạnh rằng Thánh Thể là nguồn mạch của mọi hình thức thánh hiến trong Hội Thánh.[4] Qua việc tham dự và chiêm ngắm hy tế Thánh Thể, người thánh hiến được đào luyện để sống ơn gọi của mình như một lời tạ ơn liên lỉ, một của lễ sống động dâng lên Thiên Chúa vì Hội Thánh và thế giới.
-
Thánh Thể – Lời tạ ơn theo Thánh Phêrô Giulianô Eymard
Cha Thánh Eymard, Đấng sáng lập Hội Dòng đã mời gọi các tu sĩ Thánh Thể sống ơn gọi của mình như một đời sống tạ ơn liên lỉ trước tình yêu tự hiến của Chúa Giêsu nơi Thánh Thể. Trong một bài giảng cho các chị Nữ tỳ Thánh Thể, cha nói đến mục đích thứ hai của công trình lập Dòng là để thường xuyên cảm tạ tình yêu Chúa Giêsu thể hiện qua việc lập Bí tích Cực Thánh:
“Cảm tạ long trọng vì tất cả những hy sinh Người phải chịu qua việc lập Bí tích này: hy sinh vinh quang, hy sinh vẻ uy nghi, hy sinh quyền lực, hy sinh tự do, hy sinh cả đến sự thánh thiêng vinh hiển của Người trước bao nhiêu nguy cơ bị khinh thị, lăng nhục, phạm thượng, phạm thánh, bằng những cách đáng phẫn nộ nhất. Những thứ đó, Người biết trước hết, phẩm vị vô cùng đáng tôn kính của Người cân nhắc hết, nhưng tình yêu đã lướt thắng hết.
Cảm tạ không ngớt vì Người hiện diện không ngừng và bền bỉ nơi Bí tích… Biết bao bằng chứng về tình yêu, những bằng chứng chất chồng! Hàng núi hàng núi cao chất ngất những trái ngọt của một tình yêu quá dư thừa phung phí! Từng chuỗi từng chuỗi dài đến đâu những ân sủng trao ban từ biến cố Phòng Tiệc Thánh cho đến tận ngày nay! Lại không chính đáng sao việc cảm tạ ngợi khen lòng lành của Đấng Cứu Độ đáng mến yêu này? […]
Cảm tạ nhân danh cộng đồng: Phải cảm tạ thay cho những người không cảm tạ. Họ là họ hàng thân thích, là bạn bè bằng hữu của chúng ta, là anh chị em chúng ta trong Ađam hay trong đức tin. Phải cảm tạ trước khi được ơn thì mới công bằng.[…] Không có Thánh Thể, thế giới Kitô giáo sẽ chỉ là một sa mạc khô cằn, một nấm mồ tăm tối, sẽ chỉ là ngày tận số, ngày phán xét sau cùng. Vậy thì sẽ tuyệt vời biết bao khi mục đích của mình là được ở suốt đời ở dưới chân ngai tòa của Con Chiên, được hợp tiếng cùng triều thần thiên quốc mà thưa lên với Con Chiên rằng: Lạy Chúa Giêsu, Ngài xứng đáng lãnh nhận lời chúc tụng, danh dự, vinh quang và uy quyền đến muôn thuở muôn đời”. (PS 6,1)
Cũng vậy, ở một bài giảng khác cho các tu sĩ Thánh Thể, cha Eymard cũng nói đến việc tạ ơn Chúa Giêsu Kitô với tất cả những ơn đã ban tặng cho ta cho đến hôm nay, đặc biệt là được đón nhận Lời thần linh của Người. (PR 12,1)
-
Thánh Thể – Lời tạ ơn trong đời sống thánh hiến
Trong đời sống thánh hiến, Thánh Thể giữ một vị trí trung tâm và mang ý nghĩa đặc biệt như trường học của hy tế và tạ ơn. Mỗi ngày, các tu sĩ được mời gọi đặt chính đời sống mình lên bàn thờ cùng với bánh và rượu: những niềm vui, hy sinh, mệt mỏi và những giới hạn cá nhân. Khi được kết hiệp với hy tế của Đức Kitô, tất cả những thực tại ấy trở thành của lễ thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa. Đời sống thánh hiến trở thành một hình thức diễn tả lời tạ ơn bằng chính cuộc đời. Qua việc khấn giữ các Lời Khuyên Phúc Âm, người tu sĩ đáp lại tình yêu nhưng không của Thiên Chúa bằng sự hiến dâng toàn thân, để đời mình trở nên lời chúc tụng và cảm tạ liên lỉ.
Chiều kích tạ ơn của Thánh Thể giúp người thánh hiến học biết đón nhận đời sống như một ân huệ nhưng không. Tạ ơn không chỉ trong những hoàn cảnh thuận lợi, nhưng cả trong thử thách, khô khan, hiểu lầm và những hy sinh không được nhìn nhận. Chính nhờ thái độ tạ ơn này mà đời sống cầu nguyện, cộng đoàn và sứ vụ của các tu sĩ được thanh luyện khỏi những thái độ than phiền, khép kín hay tìm kiếm chính mình. Khi được nuôi dưỡng thường xuyên bởi Thánh Thể, các tu sĩ học biết sống mỗi ngày như một của lễ được dâng lên, trong tin tưởng và phó thác.
Cách riêng, trong linh đạo của Dòng Nữ tỳ Thánh Thể, chiều kích tạ ơn ấy được thể hiện cụ thể qua đời sống âm thầm và tự hiến. Những công việc nhỏ bé hằng ngày khi được kết hiệp với Chúa Giêsu Thánh Thể, mang giá trị như của lễ tạ ơn âm thầm. Việc tham dự Thánh lễ và Chầu Thánh Thể mời gọi chị Nữ tỳ bước vào chính thái độ nội tâm của Chúa Giêsu: tạ ơn Chúa Cha trong mọi hoàn cảnh, kể cả trong thập giá và hy sinh. Noi gương Chúa Giêsu, người Nữ tỳ được mời gọi trở nên “tấm bánh bẻ ra”, để đời mình được bẻ ra vì Thiên Chúa và vì tha nhân.
Đời sống cầu nguyện trước Thánh Thể nuôi dưỡng nơi chị một tâm hồn tạ ơn không ngừng. Nhờ việc ở lại trong thinh lặng trước Chúa Giêsu Thánh Thể, chị Nữ tỳ học biết nhận ra bàn tay quan phòng của Thiên Chúa trong từng biến cố của đời sống: từ ơn gọi, cộng đoàn, sứ vụ cho đến những thử thách và giới hạn cá nhân. Khi mang tinh thần Thánh Thể vào đời sống thường ngày, từng cử chỉ nhỏ bé trở thành lời tạ ơn sống động, diễn tả niềm tin tưởng và phó thác vào tình yêu của Thiên Chúa. Mỗi ngày, chị Nữ tỳ có những giờ Chầu bên Chúa Giêsu Thánh Thể, đó là những giây phút thinh lặng sâu lắng, nơi chị noi gương Mẹ Maria thưa tiếng “xin vâng” mỗi ngày, ngay cả khi phải đối diện với mệt mỏi, khô khan hay bóng tối thiêng liêng. Chính trong những lúc ấy, Thánh Thể mặc khải ý nghĩa sâu xa của lời tạ ơn: đó không phải là cảm xúc nhất thời, nhưng là một chọn lựa đức tin, một thái độ phó thác trọn vẹn, đặt đời mình vào trong tay Chúa.
Lời kết
Như thế, Bí tích Thánh Thể không chỉ là mầu nhiệm được cử hành mà còn là khuôn mẫu cho đời sống thánh hiến. Khi gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu Thánh Thể, các tu sĩ, cách riêng chị Nữ tỳ Thánh Thể, được biến đổi để trở thành lời tạ ơn sống động giữa lòng thế giới, một hy tế hiến dâng không ngừng và là dấu chỉ tình yêu tự hiến của Chúa Kitô. Chính nơi Thánh Thể, đời sống thánh hiến tìm thấy ý nghĩa sâu xa, niềm vui bền vững và nguồn mạch trung tín cho hành trình dâng hiến mỗi ngày. Vì thế, việc cử hành Bí tích này chính là sự thể hiện tinh thần cảm tạ như Chúa Giêsu đã thực hiện, nghĩa là qua Bí tích này, ta phải dâng lên Thiên Chúa toàn thể cuộc sống để cảm tạ và chúc tụng Ngài về muôn hồng ân Ngài hằng tuôn đổ dồi dào xuống cho ta trong mọi giây phút, như Bernard Haring nói: “Phải cảm tạ và chúc tụng Chúa khi mạnh khỏe cũng như lúc yếu đau. Phải chúc tụng Người khi gặp nghịch cảnh cũng như lúc được may mắn. Phải cảm tạ Chúa về giấc ngủ ngon phục hồi sinh lực, nhưng cũng phải dùng những đêm khuya thao thức mất ngủ để đếm từng ơn lành Người ban xuống cho đời ta.”[5] Thánh Eymard cũng từng nói rằng: “Thiên Chúa làm giàu cho ta bởi rất nhiều ân huệ, hãy tạ ơn vì đó, và Thánh Thể là lễ tạ ơn tuyệt hảo” (PS 236,5). Và ngài còn nhấn mạnh: “Hãy giữ tâm hồn trong tâm tình tạ ơn thường xuyên, đó là việc thực hành làm hài lòng Chúa nhất, và đó là điều êm dịu nhất cho con tim. Hãy tạ ơn vì hết mọi sự việc, vì tất cả đều là hồng ân, tất cả có thể là lời ca tụng Thiên Chúa” (CO 1049).
Maria Khánh Vy, SSS
[1] x. Adalbert-G. Hamman, Để Đọc Các Giáo Phụ, ( Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2014), 14-15.
[2] Phaolo Bùi Văn Đọc, Thần Học Về Bí Tích Thánh Thể, ( Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2009), 244.
[3] Sđd, 257.
[4] Thánh Gioan Phaolô II, Tông Huấn Vita Consecrata, số 95.
[5] x. Nguyễn Phúc Thuần, Thánh Thể Mầu Nhiệm Vượt Qua ( NXB Dân Chúa,1988), 84-85.