cha thánh Eymard

THE WORLD OF ST PETER JULIAN EYMARD

Eymardian places là di sản về đời sống và công trình của vị thánh người Pháp Peter Julian Eymard (1811-1868).

Eymard là vị linh mục có linh đạo mục đích cống hiến cho ‘bí tích Thánh Thể’, là bí tích về sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-su mà Giáo hội tưởng nhớ trong cử hành Thánh lễ.

Suốt cuộc đời cha Eymard, đặc tính của Giáo hội Pháp đã thay đổi, từ một tôn giáo tội lỗi và sợ hãi tới một tôn giáo đặt nền tảng trên tình yêu và lòng thương xót của Chúa. Eymard là khuôn mặt dẫn đầu về sự biến chuyển này.

Ngài là vị sáng lập hai dòng dâng hiến cho tình yêu Thiên Chúa hiện diện trong Thánh Thể. Dòng tu dành cho các cha và các tu sĩ, ngày nay gọi là Dòng Thánh Thể, thành lập năm 1856. Hai năm sau, ngài cộng tác với Marguerite Guillot (1815-1885) thiết lập dòng nữ, ngày nay gọi là Nữ tỳ Thánh Thể. Ngài cũng thành lập hội dành cho giáo dân gọi là Hiệp hội Thánh Thể.

Cuộc đời Eymard là một chuyến hành hương. Ngài đã qua những chặng đường dài đến những nơi đưa ngài tới gần Thiên Chúa. Sức mạnh của những nơi ấy đã lưu lại trong ngài và dẫn ngài trở lại, suy tư, cầu nguyện, dâng lời tạ ơn và làm sống lại kinh nghiệm của ngài về Thiên Chúa.

Eymardian places là những nơi mà cha Eymard tìm kiếm Thiên Chúa và cũng là nơi chúng ta tìm thấy cha Eymard. Như người hành hương, chúng ta theo bước ngài. Chúng ta tìm kiếm ngài trong các nhà thờ, đền thánh mà ngài yêu thích, trong các làng mạc và thành phố nơi ngài sống và làm việc, nơi có các biến cố rất quan trọng xảy ra trong đời ngài.

Trang Web này, ban đầu được biên dịch dưới dạng trực tuyến cho nhóm hành hương từ Úc đến Pháp vào tháng 10.2011. Ở đây, cung cấp nhiều thông tin, nhưng không phải là tất cả các địa điểm Eymardian. Hy vọng sau này sẽ có những địa điểm và nhiều nguồn thông tin được thêm vào trang web này.

LINKS
Map of Eymardian Places
Pilgrimage Reports
The Eymard Bicentenary  [Slide Presentation compiled by Fr Jo Dirks SSS and Fr Tony McSweeney SSS]

Saint Pierre-Julien Eymard le Soleil de l’Eucharistie (Documentary Film, KTO Télévision Catholique, 2018)

ARS

Đền thánh xứ Ars
đường Jean-Marie Vianney, Ars-sur-Formans (cách Lyon 30 km về phía bắc), nước Pháp.

Bức tượng cha sở họ Ars ở nhà nguyện Trái tim

Đền thánh Ars là một địa danh thuộc di sản tôn giáo liên quan tới cha sở họ Ars – Thánh  Jean-Marie Vianney (1786-1859), quan thầy của các cha xứ, ngài nổi danh trong việc giải tội và khuyên bảo ở xứ Ars từ năm 1818 đến 1859. Vào năm 1860, ngôi nhà thờ cũ của cha sở họ Ars do Pierre Bossan– sau này là kiến trúc sư của Vương cung thánh đường Đức Bà ở Fourvière- thiết kế thành một ngôi thánh đường lớn hơn. Phần còn lại của thi thể ngài được lưu giữ tại ngôi thánh đường này trong một quan tài bằng thủy tinh . Trái tim của ngài hiện trong nhà nguyện Trái tim .

 Ý nghĩa
Eymard là bạn thân của cha sở Jean-Marie Vianney, người có ảnh hưởng rất lớn khi khích lệ cha Eymard lập dòng tận hiến cho Thánh Thể. Ngài đồng ý là thành viên dòng Ba Đức Mẹ của cha Eymard và ngài nhận ra cha Eymard là “vị thánh lớn”.  Trong buổi họp với mẹ Marguerite Guillot tại xứ Ars vào năm 1858, cha sở nói về công trình cuả Eymard như sau: ‘Thế gian không hiểu và phản đối, ngăn cản công trình ấy. Nhưng nó sẽ thành công, sẽ đứng vững”.

Trước khi cha sở họ Ars qua đời vào năm 1859, Eymard đến thăm ngài tại xứ Ars, đã bận tâm với việc thiếu ơn gọi trong dòng mới của mình. E-ma đã yêu cầu đầy cảm xúc xin cha sở thánh cầu nguyện, đại khái nhắc nhở cha sở rằng: “Ngài đã khởi đầu trong con dự án này”.

Đó là tiếng kêu từ thập giá, và cha sở đã khóc khi nghe những lời cuả cha Ê-ma. Vị linh mục già đầy khôn ngoan này đã nhắc cha Ê-ma rằng cha không cần cầu nguyện với Chúa như vậy.  ‘Chính cha, cha có Thiên Chúa” Cha sở nói thế “ Cha có Chúa luôn ở trước mặt!”.

Hai người ôm chầm lấy nhau. Đó là giây phút sau cùng mà cha Ê-ma gặp cha sở trước khi chết.

 Gian cung thánh của thánh đường Basilica tại giáo xứ họ  Ars.

Thánh tích của thánh Jean-Marie Vianney được bảo tồn tại thánh đường Basilica họ Ars.

 Đường link
Sanctuaire d’Ars (Shrine of Ars) [French with English and other language options]

BELLEY

Vị sáng lập trường trung học Marist và tiểu chủng viện ( hiện nay là trường trung học Lamartine và Lycée)
41 đường Georges Girerd, Belley, France

Jean-Claude Colin

Trường trung học tư thục Belley hiện nay là trường trung học Lamartine College và Lycée, ban đầu được thành lập vào cuối thế kỷ 17, dành cho nam sinh và là chủng viện của giáo phận Belley. Giữa năm 1820, Đức Giám Mục Devie của giáo phận Belley đã mời dòng Đức Mẹ đến sống tại đây. Ngược với ý định của vị sáng lập dòng Marist Jean-Claude Colin, vào năm1829 Đức Giám Mục đã để trường dưới sự hướng dẫn của cha Colin, người sớm bạc đầu vì căng thẳng. Một số dãy trường hiện nay tồn tại từ thời dòng Đức Mẹ và chấm dứt khi trả lại giáo phận quản lý lại vào năm 1845. Eymard được ghi dấu trong nhà nguyện trường bằng bức tượng thánh Peter Chanel tử đạo (1803-1841).

Ý nghĩa
Trước khi hoàn tất nhà tập trong dòng Đức Mẹ, Eymard được cử tới Belley trong vai trò linh hướng vào tháng 12.1839. Vì Eymard đã chịu chức linh mục và có kinh nghiệm của một linh mục triều khi gia nhập dòng Đức Mẹ, ngài được phép ở giai đoạn tập viện ngắn hơn. Vào ngày 16.02.1840, Eymard khấn lần đầu trong dòng Đức mẹ tại ngôi nhà nguyện ở Belley.

Peter Julian Eymard

Eymard đã làm linh hướng ở Belley từ cuối năm 1839 cho đến tháng 11.1844, khi ngài trở về Lyon lãnh trách vụ mới là Giám Tỉnh dòng Đức Mẹ. Trách nhiệm của cha ở Belley là giảng dạy, hướng dẫn ơn gọi tu trì, cử hành các bí tích, gặp gỡ học sinh và phụ huynh. Ngài cũng tổ chức hội học sinh gọi là Hội Đức Nữ Trinh, góp phần vào việc thăng tiến giới trẻ của trường.

Trường trung học Belley cũng mang ý nghĩa lịch sử liên hệ với St Peter Chanel, vị tử đạo đầu tiên tại in Oceania ( 28.04.1841), ngài đã dạy tại trường vào đầu năm 1830.

Hiện nay, trường được đặt theo tên của nhà chính trị nổi tiếng và là nhà thơ lãng mạn Alphonse de Lamartine (1790-1869), là học sinh dòng Tên của trường từ năm 1803 đến năm 1807.

Đường link
Jean-Claude Colin – Cause for Beatification website
Lamartine (official website) [French]
The Marist Places : Belley (Marist Internet Project)

CHAINTRÉ

Lâu đài Chaintré (Chaintré Castle) nằm cuối đường Bergers, gần đường  Roy de Croix, Crêches-sur-Saône, France [ Map ]

Lâu đài Chaintré là một tòa nhà cổ của dòng họ Chaintré được xây dựng vào thế kỷ 12 và hiện nay là khu tổng hợp nhiều tòa nhà với những niên đại khác nhau ( vào khoảng thế kỷ 15,16). Từ năm 1516, bất động sản này đã sang tay rất nhiều chủ. Giữa thế kỷ 19, di sản ấy được dòng Đức Mẹ mua lại theo yêu cầu. Tập viện và trường học được đặt ở đây từ năm 1845 đến 1868. Mặc dầu hiện nay, lâu đài là một khu dân cư thuộc sở hữu tư nhân, nhưng du khách cũng có thể tham quan bên ngoài lâu đài này.

Ý nghĩa
Cuối năm 1855, Eymard tạm thời chuyển tới lâu đài Chaintré, cách Lyon khoảng 70 km về phía bắc. Mục đích sự chuyển dời này chủ yếu để cha dưỡng bệnh vì tại đây yên tĩnh và an bình. Khi sức khỏe khá hơn, ngài đã viết một cuốn sách hướng dẫn dòng ba Đức Mẹ. Đầu tháng 02.1856, Bề trên Tổng quyền dòng Đức mẹ – Cha Julien Favre (kế vị cha Jean-Claude Colin) đã đồng ý tấu trình lên Đức Giáo Hoàng kế hoạch của cha Ê-ma, về việc lập dòng phục vụ Thánh Thể.

‘Tại Chaintré, tôi đã cầu nguyện’, Eymardđã nói

‘Chưa bao giờ tôi cầu nguyện và đau khổ nhiều như vậy, tôi đã nài xin Thiên Chúa tỏ hiện thánh ý Ngài ’.

Ngày 22.04.1856, sau khi yết kiến Đức Giáo Hoàng Pio IX, cha Favre đã đến Chaintré và nói với cha Eymardrằng ‘Rome’ đã không chấp thuận dự án của cha. Tức thì cha Eymard đồng ý vâng theo vì ngài tưởng cha Favre nói đó là quyết định của Đức Giáo Hoàng. Cho tới khi đi dạo tại Chaintré, sau khi hỏi kỹ lại cha Favre, cha Eymardmới vỡ lẽ ra là cha Favre mới chỉ bàn hỏi dự án trên với các vị chức sắc trong giáo triều, các linh mục và những vị khôn ngoan tại Rome, với Đức Giám mục, chứ không trình với Đức Giáo Hoàng.  Đó chỉ dựa trên quan điểm của họ về việc cha rời khỏi dòng Đức Mẹ mà cha Eymard được báo rằng ‘Rome’ không chấp thuận.

‘Với tôi, Rome là Đức Giáo Hoàng”, Eymardđã nói thế.

Khi cha Eymard hỏi cha Favre giải thích vì sao đề nghị của ngài không được tấu trình lên Đức Giáo Hoàng như cha Favre đã hứa, cha Favre nói rằng: ngài ‘quên’ ‘Thế là xong’, cha Eymard đã nói với cha Favre như vậy.

Đường link
Town of Chaintré (official site) [French]

CHATTE

Giáo xứ cũ : Chatte, France

 Nơi sinh sống của Eymard tại Chatte vào năm 1830  được ghi nhớ bằng một tấm bảng gắn trên tường của giáo xứ cũ đối diện với nhà thờ hiện nay. Tấm bảng được gắn vào năm 2004, đánh dấu Kỷ niệm 170 năm cha Eymard đến thị trấn này.  

 Ý nghĩa:
Tháng 10.1834, Eymard nhận sứ vụ mục tử đầu tiên tại giáo phận Grenoble trong vai trò cha phó họ Chatte, một ngôi làng nhỏ,  nông nghiệp cách Grenoble khoảng 60km về hướng tây.  Là một linh mục trẻ , cha Eymard chăm chỉ học hành để hoàn tất chương trình và nâng cao nghiệp vụ giảng dạy.

Ngài viết: “Tôi phải học để biết nói chạm vào lòng người”.

 Hàng ngày, cha Eymard đọc Kinh Thánh và cầu nguyện trước Thánh Thể vào mỗi buổi sáng và chiều tối. Ngài dấn thân cho việc mục vụ giáo xứ như: cử hành thánh lễ, thăm viếng người bệnh, khuyên bảo và giải tội, hướng dẫn đời sống tôn giáo cho trẻ em.   

Ở đây, ngài cũng nổi tiếng về lòng thương người nghèo. Ngài thường chia sẻ tiền lương ít ỏi cho những người thiếu thốn, mà dân địa phương gọi ngài là “ túi lủng”.

Suốt thời gian ở Chatte, cha Eymard khá quen thuộc với Calvary gần đồi đá  Saint-Romans, nơi ngài nhận được ơn đặc biệt mà ngài đã trân trọng suốt cuộc đời. Eymard ở Chatte  đến giữa năm 1837, khi ngài được bổ nhiệm làm cha sở ở  Monteynard.

Đường link
Ville de Chatte (Official Site) [French]

GRENOBLE

Giữa 2 dòng chảy của sông Drac và sông Isère, bức tranh thành phố được những ngọn núi hùng vĩ bao bọc . Grenoble là nơi tổ chức Olympic mùa đông vào năm 1968. Ngày nay, thành phố này được xem như cửa ngõ tiếp khách du lịch và là trung tâm khám phá khoa học kỹ nghệ quan trọng không ngừng.

Ý nghĩa:

Peter Julian Eymard  chịu chức linh mục tại giáo phận Grenoble (nay là Grenoble-Vienne) năm 1834. Thánh lễ cuối cùng của ngài được cử hành tại Grenoble ngày 21.07. 1868.  Một vài nơi tại Grenoble có liên hệ rất gần với Thánh Eymard:

* Nhà thờ chánh tòa Đức Bà.
* Nhà nguyện Thánh Thể.
* Đại Chủng viện Grenoble

Đường LINKS
Diocese of Grenoble-Vienne [French]
Grenoble – City [French]
Grenoble – Tourism [English]
Grenoble – Tourism [French]

LA MURE

 Thánh Peter Julian Eymard sinh tại La Mure, gần Grenoble, nước Pháp vào ngày  04.02. 1811.  Được bao bọc bởi những ngọn núi phủ đầy tuyết của dãy Alps, chợ phố La Mure có số dân cư khoảng 2000 người vào đầu thế kỷ 19. Hầu hết dân chúng là người Công Giáo,  như gia đình Eymard , và  nhiều người là công nhân của mỏ than địa phương.

Cha của Eymard là một người buôn bán nhỏ tại đường chính của phố.  Ông còn tăng thu nhập khi bán dầu ép từ hạt và thỉnh thoảng khai thác đá và trồng trọt.

Vợ trước của ông là Jeanne-Marie chết khi còn trẻ và họ đã có 6 người con. Vào năm 1804, ông cưới vợ là Marie-Madeleine Pelorse. Peter Julian là con thứ tư của cuộc hôn nhân này và là người sống sót trong thời sơ sinh.

Nếu Peter Julian Eymard theo ước mơ của cha mình, ngài phải trách nhiệm về việc buôn bán của gia đình và ở La Mure suốt đời. Nhưng Eymard đã theo tiếng gọi khác và ngài trở thành linh mục. Cuộc đời sau đó khi Eymard rời khỏi thành phố thời sinh trưởng và niên thiếu, ngài không bao giờ đánh mất tình yêu với cảnh núi đồi của La Mure.

St Peter Julian Eymard

Ý nghĩa
Phố La Mure là nơi sinh trưởng của St Peter Julian Eymard. Đó là nơi Eymard lớn lên và phụ giúp công việc buôn bán với cha ngài. Ngài học tại trường ở La Mure và giúp lễ trong nhà thờ giáo xứ.  La Mure là nơi cha Eymard hành hương, cha đã trở về và chết tại đây.

Có 6 địa điểm ở La Mure được diễn tả trong website này:

* Nhà nguyện St Pierre-Julien Eymard
Nhà thờ Đức Mẹ lên trời.
Nơi sinh của Eymard
* Nhà Eymard
* Nơi chôn cất cha Eymard đầu tiên.
* Đồi Calve

Đường  LINKS
– Saint Peter Julian Eymard and his Hometown : tác giả Eric Marchand. Phần 1 của chuỗi 4 bài nguyên thủy này được xuất bản tại Partager, do Robert Lussier SSS chuyển ngữ và tái xuất bản tại Bread, Broken & Shared, tháng 11 và 12 / 2011 (PDF: 1.9 MB)

– La Mure and Its People in the Correspondence of Saint Peter Julian Eymard: Father Eymard’s Love for his Native Land : tác giả Marie Thérèse Joubert. Phần 2 của chuỗi 4 bài nguyên thủy này được xuất bản tại Partager, do Robert Lussier SSS chuyển ngữ và tái xuất bản tại Bread, Broken & Shared, tháng 01 và 02/ 2012 (PDF: 2.4 MB)

– Saint Peter Julian Eymard of La Mure: A Powerful Call : tác giả André Guitton SSS. Phần 3 của chuỗi 4 bài nguyên thủy này được xuất bản tại Partager, do Robert Lussier SSS chuyển ngữ và tái xuất bản tại Bread, Broken & Shared, tháng 03 và 04/ 2012  (PDF: 2.8 MB)

– Father Eymard and the ‘Memory’ of his Baptism : Tác giả Manuel Barbiero SSS. Phần 4 của chuỗi 4 bài nguyên thủy này được xuất bản tại Partager, do Robert Lussier SSS chuyển ngữ và tái xuất bản tại Bread, Broken & Shared, tháng 05 và 06/ 2012 (PDF: 2.6 MB)

– La Matheysine [French]

LA SEYNE-SUR-MER

Trường trung học Marist tại La Seyne-sur-Mer (Dòng Đức Mẹ – La Seyne-sur-Mer)
Germain Loro, La Seyne-sur-Mer, France [ Map ]

Trung học Marist ở La Seyne-sur-Mer được các cha dòng Đức Mẹ mua lại vào thập niên 1840s. Đất đai này có từ năm 1621 do đại úy Michel Tortel phát triển như một tu viện được dâng kính Thánh Francis.

Ý nghĩa ;

Tháng 9.1851, cha Jean-Claude Colin đổi trách nhiệm của Eymard sang phụ trách nhà tập dòng Đức Mẹ ở La Favorite , Lyon. Cha Colin không hài lòng về cố gắng của Eymard để xin phê chuẩn của Tòa Thánh cho Dòng ba Đức Mẹ, mà không xin phép Bề trên Tổng Quyền là cha Jean-Claude Colin trước. Điều đó có thể là cách cắt đứt đôi cánh của Eymard, Colin đã trao  Eymard một vai trò mới là Bề trên trung học ở La Seyne-sur-Mer gần Toulon, phía đông nam nước Pháp.

Dòng Đức Mẹ, La Seyne-sur-Mer

Tại La Seyne, Eymard vẫn giữ liên lạc với Marguerite Guillot và thường viết cho cô về sự lôi cuốn không ngừng của ngài về Thánh Thể. Ngài ý thức về cái nhìn thiêng liêng mãnh liệt trong những thời điểm đặc biệt.  Sau mỗi dịp, những lần ngồi lại trong giờ cầu nguyện và nhất là sau khi hiệp lễ trong ngày lễ thánh Giuse tháng 4.1853, ngài viết cho cô Guillot rằng ngài tin Thiên Chúa đã đặt trong lòng ngài ‘một tư tưởng cao đẹp… hướng về tôn thờ Chúa Giêsu trong bí tích Cực Thánh’. Ngài không hoàn toàn theo tư tưởng ấy cách thuần túy, đàng khác có cả vẻ đẹp và nỗi khiếp sợ. Ngài bảo rằng ngài phải can đảm hy sinh bất cứ điều gì vì tư tưởng này. Ngài cầu nguyện để có thể xứng đáng với công trình này.

Mặc dầu những chi tiết đặc biệt về kinh nghiệm của cha Eymard viết không rõ cho Guillot vào năm 1853, nhưng rất ít nghi ngờ rằng những gì Eymard diễn tả cho cô là kinh nghiệm về ân sủng hoặc là món quà từ Thiên Chúa. Ý thức về tầm quan trọng của tình yêu Chúa trong Thánh Thể đã thấm sâu trong ngài và ngài hiểu rằng ngài được gọi cách riêng để đáp lại tình yêu đó. Ngài cảm nhận sự yếu hèn của thân phận con người và cầu xin Chúa nâng đỡ.

Trong thời gian này, Eymard đáp trả lời mời đến La Seyne liên quan với việc rời khỏi dòng Đức Mẹ và thành lập dòng mới tận hiến cho Thánh Thể. Năm1853, Eymard đã ý thức sâu xa về sự bất xứng của mình, nhưng thực ra ngài đã lãnh hội một đặc sủng khác thường mà người ta nhận thấy rất rõ.

Một trong những nhân viên của Eymard ở La Seyne vào đầu thập niên 1850 là Julian Tenison Woods (1832-89), là chủng sinh trẻ sáng giá và là giáo sư tiếng Anh, sau này đến lưu trú tại Úc và làm linh mục. Cùng với Mary MacKillop đồng sáng lập dòng Nữ tu dòng Thánh Giuse ở miền nam Úc năm 1866. Ngài cũng lập dòng Các chị tôn thờ tại Brisbane, Úc năm 1874.

Một cuộc đời đáng chú ý, Woods là một người là nhà thám hiểm nổi tiếng, khoa học gia, giáo sư và tác giả trên 200 cuốn sách về địa lý, lịch sử tự nhiên, văn chương. Ngài không bao giờ quên kinh nghiệm làm việc dưới sự lãnh đạo của cha Eymard tại La Seyne. Trong hồi ký, ngài viết vào những năm 1880, Woods không do dự diễn tả Eymard như một vị thánh khi nỏi rằng: ‘Tất cả những người tôi đã gặp, ngài là người đã để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng tôi’.

Tượng Thánh Peter Julian Eymard, Dòng Đức Mẹ, La Seyne-sur-Mer

Tại La Seyne, Eymard vẫn giữ liên lạc với  Raymond de Cuers, người đã chịu chức linh mục tại Marseille vào tháng 6/1855. Họ cùng nhau lập dòng mới và hướng dẫn những dự tu dòng Đức Mẹ về lý tưởng này. Tháng 5/1855, Eymard đã soạn thảo Hiến Pháp đầu tiên cho dòng mới và đặt dưới chân bàn thờ Đức Mẹ ở Laus.

Hai tháng sau, một trong những buổi họp quan phòng đánh dấu cuộc đời cha Eymard, ngài được cha Jean-Joseph Touche dòng Oblate đến thăm. Nhiều thập niên trước đó, khi Eymard 13 tuổi, cậu đã đi hành hương tới Đức mẹ ở Laus, cha Touche là người bạn và là người cố vấn thiêng liêng. Thời gian này, Touche đang đến Rome và ngài đã chuyển dự án dòng Thánh Thể của cha Eymard cho Đức Thánh Cha Pio IX.

Eymard đã soạn thảo bản thỉnh cầu và đưa ra những đề nghị về hội dòng dâng hiến vì ‘phục vụ cho vinh quang Chúa Giêsu trong Thánh Thể’. Ngài nói rằng, lúc đó, ngài có 6 linh mục và 6 thỉnh sinh sẵn sàng nâng đỡ cho ‘dự án Thánh Thể’, cha bề trên Julien Favre ‘không muốn ủng hộ vì dự án đó ngoài dòng Đức Mẹ’, cha Favre cũng không cho phép cha Eymard làm việc đó mà không được sự chấp thuận của Đức Giáo Hoàng.

Khi Touche về đem theo lời của Đức Giáo Hoàng: ‘Ta đã bị thuyết phục, công việc đến từ Thiên Chúa, Giáo Hội cần, hãy dùng mọi phương cách có thể, để Thánh Thể được biết đến’. Lúc đó, Đức Giáo Hoàng đã kiềm chế cho Eymard một cái phép vô điều kiện để tiến hành. Khi nghe Touche giải thích, Đức Giáo Hoàng tuyên bố ước muốn của cha Eymard là ‘linh mục Eymard, dòng Đức Mẹ được sự đồng ý của Bề trên và Giám mục địa phương để thực hiện công việc này’.

Mặc dầu được Đức Giáo Hoàng nâng đỡ về dự án lập dòng khi nghe cha Touche trình bày, điều đó vẫn không đủ thuyết phục cha Favre cho phép Eymard tiến hành. Touche, dường như bị xem là linh mục không bình thường. Cha Favre có lý khi nói rằng chính ngài cần nghe quan điểm của chính Đức Giáo Hoàng. Không may cho Eymard, cha Favre tỏ ra hờ hững để xác minh bản báo cáo của Touche.

Ngay sau các sự kiện ấy, Eymard thấy mình an tâm với bổn phận ở La Seyne và báo sẽ đến nhà tập dòng Đức Mẹ ở Chaintré để nghỉ ngơi.

‘Tôi đau khổ và hy vọng’, Eymard đã viết

LINKS

–  Fr Eymard at La Seyne-sur-Mer
Bài viết của cha Martin Ochola SSS, tường thuật cuộc hành hương thứ 18 vào tháng 6/2017 tới những nơi La Seyne-sur-Mer, Toulon, và Aix-en-Provence, SSS Congretatio, 14/9/ 2017.

– Institution Sainte Marie – La Seyne-sur-Mer (trường trung học dòng Đức mẹ ở La Seyne-sur-Mer) [French]

LYON 

Hai ngọn đồi đặc biệt của thành phố cổ Lyon . Phía tây, đồi Fourvière, là nơi 2000 năm trước là thành phố Roman. Phía đông là Croix-Rousse, nơi hợp lưu của hai con sông Rhône và Saône

Năm 1998, khi UNESCO tuyên bố về ‘Lịch sử vùng Lyon, có ghi chú rằng: ‘Lyon là chứng cứ đặc biệt về việc tồn tại của thành phố trong 2 thế kỷ trên một địa điểm mang ý nghĩa chiến lược thương mại lớn, là nơi các truyền thống văn hóa từ khắp nơi trên Châu Âu, tạo thành cộng đồng liên kết mạnh mẽ. Lyon còn được xem là ‘nhờ nơi chốn đặc biệt mà ở đây phát triển về không gian, về kiến trúc và quy hoạch thành phố trong nhiều thế kỷ’. Suốt thế kỷ 19, sự thịnh vượng do lợi ích thương mại ngày càng mở rộng , Lyon góp phần phát triển ngành thương mại tại Châu Á, châu Phi và Thái Bình Dương. Bên cạnh đó, Lyon cũng là nguồn lực cho các hoạt động truyền giáo của Giáo hội ở nước ngoài.    

Ý nghĩa
Thánh Peter Julian Eymard có nhiều sinh hoạt tại Lyon. Khởi đầu là tập sinh dòng Đức Mẹ và tại đây ngài khởi đầu đặt nền cho những dòng về Thánh Thể tương lai của ngài cho những người nam nữ. Ngài cũng truyền cảm hứng cho những nhà lãnh đạo trong sứ mệnh tông đồ cao cả khởi sự tại Lyon. Nhận thức của Eymard về ơn gọi đặc biệt của ngài với Thánh Thể được nổi bật rõ qua các kinh nghiệm thiêng liêng tại các đền thánh tại Lyon.

Những nơi đó là :

LINKS

Lyon – Tourism [French]
Lyon – Tourism [English]
Lyon – City [English]
Lyon – City [French]

MARSEILLE

– 7 rue Nau, Marseille, France [ Map ]
– Quang cảnh nhìn từ Saint-Charles station hướng về Vương cung thánh đường Đức Mẹ ở la Garde, Marseille

Nhà nguyện và cộng đoàn dòng Thánh Thể  tại Marseille nằm trên con đường hẹp trong khu phố cũ, hiện nay bị 3,4 chung cư cao tầng che khuất.

Ý nghĩa
Trong lịch sử dòng Thánh Thể, Marseille được xem là nơi thành lập đầu tiên ngoài Paris. Marseille đại diện cho thời kỳ trưởng thành của dòng và khởi đầu các cộng đoàn trong nước Pháp và sau đó trên thế giới.  Đặc tính hay ‘mẫu’ đời sống tôn giáo được thiết lập trong những năm đầu tại Marseille, và có một con đường phát triển cho sứ vụ và văn hóa của dòng sau này.

Cha Raymond De Cuers.

Cha Raymond de Cuers là người bạn đồng hành đầu tiên của cha Eymard khi ở Villa Chateaubriand, cha thúc đẩy trước và sau khi thiết lập tại Marseilles vào năm 1859. Vài năm trước khi thành lập, cha De Cuers đã đặt nền móng cho tương lai hội dòng.

Cuối cùng cha Eymard được thuyết phục để ủng hộ dự án Marseille sau khi De Cuers đã thuyết phục và được Đức cha Eugene de Mazenod – giáo phận Marseille nâng đỡ. Đức cha De Mazenod thúc đẩy hơn khi ngài thiết lập hội tôn thờ trong giáo phận ngài. Cũng vậy, như cha De Cuers đã biết, cha Eymard có thể chấp nhận bất kỳ lời mời của các đấng bậc như Đức cha de Mazenod.

Giữa năm1858, De Cuers khuyên Eymard rằng: Đức cha de Mazenod muốn dòng có mặt tại Marseille. Đức cha cũng nâng đỡ dự án (ban đầu của cha De Cuers) dòng sẽ tiếp quản ngôi nhà của đan viện Order of the Minims, một dòng đang giảm sút nhân sự và có thể đóng cửa ngôi nhà tại số 7 đường Nau.

Khi biết ý định của Đức cha de Mazenod muốn dòng chấp nhận tiếp quản đan viện Minims, Eymard đã không ngần ngại ủng hộ đề nghị ấy trước mọi chương trình khác đang được quan tâm lúc bấy giờ. Dự án mở cộng đoàn tại Arras bị từ chối ngay.

Tháng 1.1859,  Đức cha de Mazenod  viết cho cha De Cuers ‘Đến ngay khi có thể’ và ‘Các cha sẽ được tiếp đón nồng hậu nhất và sẽ thấy tôi là một người cha nhiệt tâm’.

Những tháng đầu năm 1859, sự rút lui của dòng the Minims đã cho phép dự án được tiến hành. Thời gian tiến hành rất nhanh. Căn nhà đầy đủ tiện nghi đã được mua lại với sự trợ giúp của một nhà hảo tâm. Tháng 4.1859, De Cuers đến sống tại đây và giám sát việc sửa chữa để mở nhà nguyện và khu nhà ở cho cộng đoàn.

Giữa năm1859, Eymard tới Marseille thông báo tiến hành dự án. Ngày 3.06, tại nhà thờ kính Chúa Ba Ngôi, một đám đông dân chúng được nghe giới thiệu về dự án của dòng sẽ xây dựng cách đường Nau 1km.  Quỹ được quyên góp trong buổi họp mặt này. Đề xướng của dự án mới được tiếp tục 2,3 tuần sau, khi cha Eymard dâng lễ 1ngày/ 2 lần tại nhà thờ giáo xứ.

Cùng lúc đó, trở về Paris, tất cả đều không khỏe. Hai linh mục đã rời cộng đoàn Faubourg Saint-Jacques, còn những người khác trước đó quan tâm về việc mở cửa tại Marseille, nay lại thay đổi ý định. Không đủ nhân sự, nên việc mở cửa tại Marseille bị hoãn lại.

Với cha Eymard, sự cảm nhận bị bỏ rơi mà các ngài đã có kinh nghiệm như là dấu chỉ thử thách của Chúa. Ngài nói với cha De Cuers rằng cần phó thác mình cho Thiên Chúa.  Không có gì phải sợ. Có khó khăn chứ không sợ hãi, cho đến khi kế hoạch được chuẩn bị tốt đẹp của các ngài bị sụp đổ vào giây phút cuối cùng.

Nửa cuối năm 1859, De Cuers tiếp tục chuẩn bị tại Marseille, sống như người nghèo và chi phí số tiền có cho áo lễ và đồ thờ phượng của cung thánh nhà nguyện mới. Bàn thờ được trang hoàng đắt tiền của ngài nhấn mạnh vương quyền của Đức Ki-tô. Một dãy bậc thang dẫn đến ngai tòa mặt nhật uy nghi, nơi Mình Thánh được đặt dưới một bức màn lộng lẫy được một vương miện che khuất. Loại tấm màn lộng lẫy của bàn thờ do cha De cuers làm tại Marseille năm 1859 và sau đó được các nhà nguyện của dòng trên thế giới bắt chước, cho đến khi thay đổi phụng vụ vào thập niên 1960 mới chấm dứt.

7 rue Nau, Marseille (1950s).

Ngày 9.11.1859, Đức cha de Mazenod phê chuẩn một cộng đoàn tu sĩ mới tại đường Nau với thánh lễ và đặt Mình Thánh Chúa. Cộng đoàn nhỏ mới thành lập chỉ 3 linh mục và 2 tu sĩ dưới sự hướng dẫn của cha De Cuers. Mặc dầu con số chưa đủ thành lập cộng đoàn tôn thờ trọn vẹn theo đúng nghĩa, nhưng vào đầu năm 1860 nhà nguyện trở thành nơi thờ phượng sống động trong giáo phận mà Đức cha de Mazenod đã thành lập thành công tại nhà thờ chánh tòa Marseille.

Dưới sự lãnh đạo của cha De Cuers, cộng đoàn Marseille phát triển với những đường lối khác cộng đoàn Paris do cha Eymard. Cả 2 mẫu tôn vinh Vương quyền của Chúa Ki-tô trong Thánh Thể. Cộng đoàn Paris nghiêng về tông đồ qua những hoạt động cho người nghèo, chuẩn bị cho người lớn và trẻ em lãnh nhận các bí tích. Còn lối sống của Marseille thì hẹp hơn và nhấn mạnh vào sự tôn kính, bổn phận, trang hoàng và thờ lạy. Khi cha De Cuers thay thế cha Eymard lãnh đạo hội dòng vào năm 1868 thì ngài chắc chắn cho rằng mẫu Marseille có ảnh hưởng mạnh hơn trong giai đoạn đầu phát triển của dòng ngay sau cái chết của cha Eymard.

Sức lan tỏa của mẫu Marseille và cha De Cuers với chân tính của dòng được minh họa trong lịch sử khởi đầu tại Marseille đó là “Hiệp Hội Thánh Thể”. Hiệp hội được cha Eymard dự định cho phép người giáo dân có liên quan gần hơn với những lợi ích chính công việc tông đồ của các thành viên tu sĩ trong dòng. Trong những năm đầu ở Paris, khi hội dòng không đủ số thành viên hoàn thành sứ mệnh, Eymard đã tìm kiếm và tiếp nhận sự trợ giúp của giáo dân.

Hiệp hội là cách mà cha Eymard hợp thức hóa một tổ chức giáo dân. Ngài được Đức cha de Mazenod tôn trọng khi chuẩn nhận dòng tại Marseille vào ngày 17.11.1859 và lập tức đăng ký là thành viên đầu tiên của Hiệp hội. Vài năm sau, hàng ngàn người gia nhập, lan rộng khắp nước Pháp và ra cả nước ngoài.

Năm 1862, cha André Guitton viết tiểu sử cha Eymard  trong cuốn sổ của Dòng thánh Thể, công việc Thánh Thể chính yếu của Dòng là “Dạy Giáo lý Rước lễ lần đầu cho trẻ em và người lớn thất học”. Công việc thứ 2 là “dấn thân trong việc chuẩn bị cho những người lãnh bí tích sau cùng” và công việc Thánh Thể thứ 3 là “những hoạt động liên quan chăm lo cung thánh, khăn bàn thờ, khăn thánh và các đồ phụng tự cần sạch sẽ, gọn gàng, trang trí bàn thờ hợp phụng vụ, nơi đặt Mình thánh phải xứng đáng, chăm lo đèn cung thánh và nến khi chầu Thánh Thể trong các giáo xứ nghèo”.

Ảnh hưởng của cha De Cuers và mô hình Marseille, sứ vụ tông đồ của giáo dân hiện thân trong 2 công việc đầu đã nhanh nhẹn hy sinh để ủng hộ việc thứ 3. Nhưng cha Eymard không đưa tầm quan trọng của khăn, nến trước việc quan trọng là lãnh các bí tích và ngài muốn có sự cộng tác chặt chẽ giữa giáo dân và sứ vụ của Dòng. Vào mỗi thời điểm, các tu sĩ dòng sẽ có thách đố để tái khám phá sứ điệp này.

LINKS

Diocese of Marseille [French]
Marseille Tourism : official site [French]
Marseille Tourism : official site [English]
Marseille City : official site [French] with English and other language options.

MONTEYNARD

Nhà nguyện Sainte-Agnès de Jardenc
Nhà thờ giáo xứ, gần đường Buya, 2 km phía nam  Monteynard, France [ Map ]
Vùng ngoại ô của ngôi làng Monteynard, nhà thờ giáo xứ trước kia làm bằng đá và nhỏ, được bao quanh bởi một nghĩa trang và phong cảnh núi non hùng vĩ.

 Ý nghĩa

Khi đến Monteynard, cha Eymard là một linh mục triều trẻ vào năm 1837. Ngài được sai đến một giáo xứ bị bỏ hoang sau cuộc cách mạng và cần tu sửa lại. Eymard đã sống với các chị tại nhà xứ Monteynard vào những năm 1837-1839. Vì nhà thờ cũ ở vùng ngoại ô của Monteynard, ngài đã dựng ngôi nhà nguyện nhỏ ở giữa làng.

Khi đi thăm Monteynard, Eymard đã hồi sinh niềm tin Công giáo trong khu vực này nhưng ngài càng thất vọng trong ơn gọi chính mình là một linh mục triều và quay về tư tưởng gia nhập dòng tu. Năm 1839, Eymard rời Monteynard gia nhập dòng Marist và việc từ bỏ giáo xứ, ngài không cảm thấy áy náy.

Ngài nói với các chị “Em giao phó Monteynard vào bàn tay Thiên Chúa”. Ngài nói tiếp “Hãy làm như em đã làm, Chúa Nhân Hậu không muốn các chị như vậy đâu”.

NOTRE-DAME DE LA SALETTE

Đường D212C nhìn từ Corps, La Salette-Fallavaux, France [ Map ]

Đền thánh Đức Mẹ La Salette

 Trên độ cao của những ngọn núi La Salette-Fallavaux, đền thánh Đức Mẹ La Salette tọa lạc nơi được cho rằng Mẹ đã hiện ra với hai trẻ vào năm 1846.

Đền thánh Đức mẹ la Salette bao gồm một vương cung thánh đường và những tòa nhà khác (cả khách sạn) được xây dựng trên địa điểm tương truyền là nơi Đức Mẹ hiện ra ở độ cao 1800m, giữa ngọn núi Planeau (1804m), Gargas (2208m), Chamoux (2198m) và Cross of Rougny (2258m). Vương cung thánh đường La Salette do kiến trúc sư Alfred Berruyer thiết kế và được xây vào năm 1852. Gian chính điện hoàn tất vào năm 1865 và nhà thờ được thánh hiến như một vương cung thánh đường nhỏ vào năm 1879. Những nhà nguyện khác mãi đến năm 1894 mới hoàn tất.

Bức tượng bằng đồng diễn tả sự kiện hiện ra được đặt trên vùng đất này vào năm 1864. Thánh Eymard có tương quan chặt chẽ với Đức Mẹ La Salette và được tưởng nhớ bằng một nhà nguyện nhỏ mang dáng dấp hiện đại, nằm trong khu vực đền thánh này.

La Salette là nơi hành hương tôn giáo, mỗi năm lôi cuốn khoảng 300.000 người hành hương. Đây chính là cuộc hiện ra tiên báo các cuộc hiện ra của Mẹ tại Lộ Đức 1858 và tại Fatima 1917.

Ý nghĩa

Ngày 19.9.1846, Melanie Mathieu-Calvat 14 tuổi và Maximin Giraud 11 tuổi đang chăn gia súc trên đồng cỏ núi Gargas, thì thấy một quả cầu rực lửa trên mặt đất.

Sau đó các em nói: Giống như mặt trời rơi xuống vậy.

Trong mỗi hoảng sợ, chúng nhìn thấy ánh sáng quả cầu lan tràn và tỏa ra hình ảnh một phụ nữ đang ngồi, chống khuỷu tay trên đầu gối và hai tay ôm lấy gương mặt.

“Bà đẹp”, như Melanie và Maximin diễn tả như thế, dường như bà được làm từ ánh sáng.

Bằng một giọng nói ‘nghe như tiếng nhạc’, bà trấn an bọn trẻ và yêu cầu họ đến gần hơn.

Bà nói “Ta đến đây để báo cho các con một tin lớn”.

Bà giải thích rằng Bà sẽ chịu đau khổ thay cho dân của Bà, ngăn cản cánh tay của Con Bà, cầu nguyện và nài xin Ngài đừng bỏ rơi dân vì tội lỗi và sự thờ ơ của họ.

Sứ điệp của Bà là tiếng gọi thế giới trở về với Thiên Chúa. Bà xem tội lỗi của con người tựa như mùa màng bị hư hoại. Bà cảnh báo nạn đói khủng khiếp sẽ xảy đến. Bà nói ‘Nhưng nếu người ta hoán cải, những cục đá sỏi sẽ biến thành lúa mì và khoai tây tự mọc lên trong lòng đất’.

Trong suốt cuộc trò chuyện với bọn trẻ, nước mắt chảy như suối trên gương mặt Bà. Mỗi em nhận một sứ điệp cao cả mà người kia không thể nghe thấy.

‘Ồ, các con của Ta’, Bà nói ‘Các con sẽ nói cho dân Ta biết những điều này’.

Khi Bà biến đi, hòa lẫn trong ánh sáng, Bà lại nhắc ‘Các con sẽ nói cho dân Ta biết những điều ấy’.

Lúc đó, bọn trẻ không thắc mắc Bà là ai. Chúng nghĩ Bà có thể là một vị thánh. Khi về đến ngôi làng nằm dưới chân núi, chúng liền kể lại sự kiện và sửng sốt chưa ai thấy ánh sáng rực rỡ như vậy.

   Không ngạc nhiên khi nhiều người địa phương nghi ngờ, nhưng có vài người cho rằng có thể bọn trẻ thấy Đức Mẹ. Một ngày sau, đoàn hành hương đầu tiên lên ‘núi thánh’, tới nơi được cho là Mẹ đã hiện ra. Một năm sau ngày kỷ niệm Mẹ hiện ra, 50.000 khách hành hương đến vùng La Salette.

 Đức Mẹ La Salette đeo cây thánh giá độc đáo quanh cổ, với cái búa tượng trưng là dụng cụ Chúa chịu đóng đinh và cái kìm, biểu tượng đã nhổ các đinh đóng nơi thập giá bằng chính sự ăn năn, cầu nguyện và giải hòa với Thiên Chúa.

Năm năm sau, cuộc điều tra về sự kiện hiện ra được Đức Cha Philibert de Bruillard giáo phận Grenoble tiến hành (Vị Giám Mục này đã truyền chức cho cha Eymard năm 1834). Kết quả cuộc điều tra, năm 1851 Đức Cha công bố rằng sự hiện ra này là có thực và ngài cho phép khởi đầu việc sùng kính Đức Mẹ La Salette.

Ngay sau công bố, Hội truyền giáo Đức Mẹ La Salette được thành lập năm 1852 như một dòng tu tông đồ dấn thân cho việc hòa giải và thúc đẩy các nhân đức cầu nguyện, ăn năn và sốt sắng là những tâm điểm của lời mời gọi của Đức Mẹ để được hoán cải. Cùng với dòng Con cái Đức Mẹ La Salette ( thành lập năm 1930), Hội truyền giáo đền thánh La Salette tại Pháp và họ ra sức thúc đẩy sứ điệp của Đức Mẹ La Salette về sự hòa giải và hoán cải khắp thế giới.

Trong lần kỷ niệm 150 năm Đức Mẹ hiện ra, năm 1996 Đức giáo Hoàng Gioan Phaolo II diễn tả La Salette là ‘ sứ điệp của niềm hy vọng, niềm hy vọng được duy trì do sự chuyển cầu của Đấng là Mẹ của nhân loại’.

 Với Thánh Eymard, La Salette là nơi có ý nghĩa tuyệt vời về đời tu của ngài, vì hầu như lần đầu ngài đã nghe những tường thuật về điều xảy ra tại đây. La Salette là sự kiện xảy ra trong thời cha Eymard và là một phần thế giới riêng của ngài. Trong thư gửi các chị của ngài vào tháng 12.1846, khi ngài quan sát một số người ‘cười nhạo’ về câu chuyện của bọn trẻ, rõ ràng là ngay từ đầu ngài nhận ra và tin phép lạ đã xảy ra tại La Salette, trước khi giáo quyền điều tra sự kiện và trước khi ngài đến nơi này.

Sau này, phần lớn nhiều lần trong đời, Cha Eymard đã một mình hành hương đến ‘núi thánh’ La Salette như ngài vẫn gọi như vậy. Một trong những lần đó là ngày 4.7.1863, ngài viết cho cha Alexander Leroyer, thành viên dòng Thánh Thể rằng: Tại Núi Thánh, tôi viết vài dòng cho cha, nơi mà tôi đến dâng lời tạ ơn Đức Nữ đồng trinh và cầu nguyện cho Hội dòng.

Trong một thư khác viết cùng ngày, gửi cha Michael Chanuet SSS, cha Eymard nói: Tôi đang ở La Salette, dưới chân Đức Nữ đồng trinh; 10 năm trước, tôi đã đến đây và đặt chương trình của Dòng dưới chân Mẹ; Thật ý nghĩa là tôi nên dâng cho Mẹ hoa trái đầu tiên.

Lá thư gửi tới Chanuet ngày 4.7.1863 gợi ý về ý nghĩa La Salette đối với cha Eymard trong những giây phút ban đầu của dòng Thánh Thể. Hồ sơ đương thời cho thấy rằng, cha Eymard đã viếng La Salette hầu như 10 năm trước đó, từ ngày 16 đến ngày 18.8.1853. Ngài đã kết thúc 7 ngày tĩnh tâm tại Laus. Và nhiều tháng trước kỳ tĩnh tâm, ngài đã viết nhiều lần về giấc mơ lập dòng tu dâng hiến cho Thánh Thể. Ngày 1.7.1853, ngài tâm sự với nữ bá tước Adele de Revel de Nesc: Công trình dòng Thánh Thể vẫn trong lòng đất và đang nảy mầm. Cầu nguyện cho điều ấy.

Thánh Peter Julian Eymard.

Vào đầu thập niên 1850, đã nhiều lần cha Eymard và những người khác đã nuôi dưỡng dự án Thánh Thể, dự án có kết quả là một dòng tu hiến thân cho Bí tích Thánh Thể. Nhưng có ý nghĩa khi cha Eymard tin rằng dự án đã sinh hoa trái và ngài trở lại La Salette năm 1863 để tạ ơn về những dự án mà ngài đã đặt ‘dưới chân Đức Nữ’ 10 năm trước đó.

Một ảnh hưởng khác của cha Eymard về ý nghĩa của La Salette, đó là ngài đã hướng dẫn nhiều người đến nơi Mẹ hiện ra để được ‘chữa lành’. Một trong những điều đáng chú ý xảy ra vào giữa năm 1848, khi Marguerite Guillot bị đau nặng và sắp chết. Bác sĩ đành bó tay, vì thế cha Eymard gửi cô đến La Salette, ở đó cô uống nước mỗi ngày và làm tuần cầu nguyện nhân danh Mẹ. Sự chữa lành vĩnh viễn và tự nhiên của Guillot xảy ra trong thánh lễ cuối tuần dưới sự chuyển cầu của Đức Mẹ La Salette. Cha Eymard tin rằng ‘Thiên Chúa muốn chữa lành cô vì vinh quang cho Đức Mẹ La Salette’. Tháng 3.1849, khi được yêu cầu gửi tường thuật về việc chữa lành tới cha Tổng Đại Diện giáo phận Grenoble, cha Eymard nói: Tôi sẵn sàng xác nhận điều ấy với trọn thẩm quyền niềm tin của tôi.

Trong Album của Đền thánh La Salette, có một tài liệu do cha Eymard viết ngày 18.8.1852 khi ngài vẫn là linh mục dòng Đức Mẹ: Nếu tôi không có hạnh phúc trong dòng Đức Mẹ, tôi sẽ xin Đức Cha, như một ơn ban, là để tôi dâng hồn xác phục vụ Đức mẹ La Salette. Tại Lyon, tôi rất vui khi là người đầu tiên tuyên xưng phép lạ hiện ra và hôm nay tôi hạnh phúc để hôn mảnh đất được chúc phúc, ngọn núi cứu độ này với tình yêu và lòng biết ơn.

Với cha Eymard, ý nghĩa đặc biệt của La Salette được tồn tại mãi trong suốt cuộc đời. Ngày 18.7.1868, trong những ngày cuối đời cha bị đột quỵ trên đường về La Mure, ngài đã dâng thánh lễ sau cùng tại nhà nguyện Thánh Thể của Hội truyền giáo La Salette ở Grenoble. Ngài qua đời vào ngày 01.8.1868 ở La Mure, tay giữ chặt tượng Đức Mẹ La Salette trên ngực.

NOTRE-DAME-DE-L’OSIER

Ngôi làng Đức Mẹ l’Osier, cách Grenoble khoảng 40 km phía tây , France [ Map ]

Ở Đức Mẹ l’Osier, một nhà nguyện nhỏ (Nhà nguyện Đức Mẹ gặp gỡ) tọa lạc trong vùng gần nơi được tin rằng có nhiều sự kiện lạ xảy ra vào thế kỷ 17. Ngọn tháp nhà nguyện được xây đầu tiên vào năm 1856 ( được phục chế năm 1941) để kỷ niệm việc tuyên xưng Tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội. Một nhà thờ mới và rộng hơn, giờ trở thành thánh đường, được xây lên giữa làng vào cuối thế kỷ 19 để tiếp ứng với số lượng khách hành hương ngày càng tăng.

Ý nghĩa

Đức Mẹ l’Osier, nghĩa là ‘Đức Mẹ cây liễu’là tên do một người nông dân địa phương, sau thị kiến thấy Đức Mẹ. Tháng 3.1649, Pierre Port-Combet đã làm ô uế Lễ Truyền Tin, đi đốn cây liễu và thấy như có máu chảy ra từ thân cây. Tám năm sau, tháng 3.1657, Port-Combet có một thị kiến về Đức nữ Đồng trinh trên cánh đồng của mình. Ông xác nhận bà đã hiện ra trước đó với ông qua thị kiến cây liễu và cảnh báo ông thay đổi đời sống. Sau đó Port-Combet  trở lại đạo Công giáo và để ghi dấu cuộc “gặp gỡ hạnh phúc” hoặc” gặp gỡ tốt đẹp” của ông với Đức Mẹ, một nhà nguyện được xây mang tên Đức Mẹ Gặp Gỡ.

Tấm bảng kỷ niệm 100 năm cha Eymard dâng thánh lễ mở tay. Dân địa phương đặt tên Đức Mẹ l’Osier và nơi đây trở thành đền thánh nổi tiếng cho khách hành hương vào cuối thế kỷ 17 và thế kỷ 18. Sau cuộc cách mạng Pháp, đền thánh ngưng hoạt động nhưng được hồi sinh nhờ các tu sĩ truyền giáo dòng Thánh Eugene de Mazenod đến hoạt động mục vụ tại giáo xứ địa phương năm 1834.

Ngay sau khi dòng Truyền giáo đến, cha Eymard được lãnh chức linh mục tại giáo phận Grenoble ngày 20.07.1834. Trên bước đường linh mục, Eymard đã liên kết chặt chẽ với các tu sĩ truyền giáo này. Tương quan ấy đã khiến ngài quyết định dâng thánh lễ mở tay một mình trong nhà nguyện Đức mẹ Gặp gỡ tại l’Osier ngày 22.07.1834

NOTRE-DAME DU LAUS

Saint-Étienne-le-Laus, near Gap, France [ Map )

Đền thánh Đức Mẹ ở Laus là nơi dành cho sự hòa giải và hoán cải được ghi dấu bằng ngôi nhà nguyện gần khu vực đã cho rằng một bé gái chăn cừu chứng kiến nhiều cuộc hiện ra vào cuối thế kỷ. Chặng đàng thánh giá dẫn đến những nơi Đức Mẹ hiện ra gần đền thánh. Suốt mùa hè, khắp nơi đông đúc người đi bộ hoặc xe hơi. Vào mùa đông một vài nơi vắng hơn.  Laus ( được đọc là ‘Low’ trong tiếng Pháp) là một từ Latin nghĩa là ‘ca ngợi’.

Ý nghĩa
Theo sự công nhận chính thức của Giáo Hội Công giáo năm 2008, Laus trở thành nơi quan trọng mà khách hành hương ngày càng đến đông. Lịch sử của Laus là một địa điểm xa xưa mà Đức mẹ hẹn trở lại vào tháng 5.1664 trong lần đầu tiên hiện ra với Benoite (Benedicta) Rencurel (1647-1718). Trong một chuỗi sự kiện xác nhận về kinh nghiệm thiêng liêng ấy trong cuộc đời, Rencurel cũng nói đã được thị kiến về Chúa Giesu chịu đóng đinh và về Saint Maurice.

Đức Mẹ Laus.

Giữa năm 1818 và 1841, đền thánh ở Laus do dòng St Eugene de Mazenod Đức Mẹ truyền giáo quản nhiệm. Eymard đã nhận ra ý nghĩa tại Laus thời niên thiếu. Trước khi rước lễ lần đầu vào năm 1823 (12 tuổi), ngài đã hành hương đến Laus và dâng hiến tình yêu của mình cho Mẹ. Đây là cuộc hành hương đầu tiên ghi dấu trong đời Eymard. Khi 13 tuổi, ngài đi hành hương lần 2 khoảng 60km từ La Mure đến Laus. Tại đây, ngài gặp cha Jean-Joseph Touche (một linh mục dòng Truyền giáo của Mazenod) người sau này trở thành bạn và cố vấn của ngài. Cha Touch cổ vũ Eymard rước lễ hàng tuần. Eymard hành hương đến Laus năm 1829 trước khi gia nhập tập viện dòng Đức mẹ Truyền giáo. Sau này, vào ngày 23.5.1855, Eymard đã đặt bản nháp về Hiến pháp dòng Thánh Thể trên bàn thờ tại Laus.

Nhìn về cuối đời của ngài, Eymard nhận ra rằng: Đức Mẹ đã can thiệp vào những giai đoạn quan trọng đời mình ‘Đức Trinh nữ đã dẫn tôi tới Thiên Chúa của tôi, rước lễ mỗi chủ nhật tại Laus vào lúc 12 tuổi và từ dòng Đức Mẹ tới dòng Thánh Thể’  [ Bài suy tư đầu tiên, Đại tĩnh tâm Rome, 1.2.1865]

Nhà nguyện Máu Châu báu, đền thánh Đức Mẹ Laus

Trong lá thư tháng 7.1867 gửi cha Edmund Tenaillon SSS đi hành hương, cha Eymard suy tư về việc hành hương như là bậc thày tốt và ngài chú ý đến câu của người xưa ‘hành hương giúp cho sự thánh thiện’. Ngài khuyến khích Tenaillon đến Laus:

Trên thế giới, đó là nơi hành hương đẹp nhất và thánh thiện nhất, chỉ sau Đức Mẹ ở Loretto.

Đó là nơi hành hương của tôi thời niên thiếu. Ở đấy, tôi nợ mọi điều. Sau khi cha đến đó, hãy cầu nguyện  với Đức Mẹ cho tôi bằng những lời kinh được ghi sau bàn thờ nhé.

[Eymard to Fr E. Tenaillon SSS, 21 July 1867, transl. Sr Catherine Marie Caron SSS, The Life and Letters of Saint Peter Julian Eymard, vol. 6 (Albuquerque: 1995, 86)].

Gần 20 năm sau, cha Tenaillon là người đầu tiên đưa ra lý do phong chân phước cho cha Eymard.

Benoite Rencurel được Đức Giáo Hoàng Pio IX tôn Bậc Đáng Kính năm 1872. Việc phong chân phước bị hoãn lại năm 1913 và lại được mở ra vào năm 1981 do Đức Giáo Hoàng John Paul II.

PARIS

Hơn một triệu người sống tại  Paris khoảng giữa thế kỷ 19, khi dòng Thánh Thể và Nữ Tỳ Thánh Thể được cha Peter Julian Eymard thành lập. Đó là thời kỳ đầy biến động. Thành phố Paris, nơi người Roma chiếm giữ đang chuyển mình dưới sức mạnh của nền văn minh hiện đại hóa.

Trong thời Hoàng đế thứ 2 (1852-70), dưới trào lưu của Georges-Eugène Haussmann, nhiều thành phố cổ được tái thiết. Những khu ổ chuột và những con phố chật hẹp được giải tỏa và toàn bộ các khu phố cũ bị phá bỏ nhường chỗ cho những đại lộ tráng lệ đặc trưng Paris ngày nay.

 Ý nghĩa
Mặc dầu Thánh Peter Julian Eymard được sinh ra và lớn lên trong miền núi phía nam nước Pháp, điều quan trọng là nhận ra rằng nơi khai sinh công trình đời ngài lại trong một đô thị Paris rộng lớn của thế kỷ 19.

Vì ý tưởng ban đầu Eymard chú ý đến thành phần người nghèo ở Paris, có một vài di sản vật chất gắn liền với công trình của ngài đã không được giữ lại khi tái thiết thành phố. Nhưng khách hành hương có thể khám phá những nơi của Thánh Eymard như:

LINKS
Paris – City [English]
Paris – City [French]
Paris – Tourism [English]
Paris – Tourism [French]

SAINT-MAURICE

Cnr Place de l’Église and rue du Pressoir, Saint-Maurice-Montcouronne (formerly Saint-Maurice), Essonne, Île-de-France, France [ Map

Gần trung tâm thị trấn nhỏ Saint-Maurice-Montcouronne, khoảng 45 km phía tây nam Paris, đó là ngôi nhà nhỏ và tài sản quan trọng do cha Eymard và năm 1866 dòng Thánh Thể đã mua vừa là nơi làm nhà tập trong tương lai và là nơi thanh vắng để cầu nguyện và chiêm niệm.

Sau khi nhà nguyện được khôi phục hoàn thành,  Saint-Maurice trước tiên là nơi dành cho nhà tập vào Giáng Sinh năm 1866, lúc đó 14 tập sinh dòng Thánh Thể chuyển từ Paris tới Saint-Maurice dưới sự lãnh đạo của cha Michel Chanuet. Saint-Maurice thuộc chủ quyền dòng Thánh Thể cho đến khi tôn giáo bị trục xuất vào năm 1880.

Nhà thờ Saint-Maurice.

Sự hiện diện của dòng Thánh Thể tại Saint-Maurice hiện nay là những ngôi mộ của các thành viên trong dòng thời ban đầu và một bức tượng thánh Eymard trong nhà thờ giáo xứ ở giữa làng (nhà thờ Saint-Maurice) có từ thế kỷ 12..

Ý nghĩa
Saint-Maurice là nơi quan trọng mà cha Eymard tìm thấy bình an trong những năm cuối đời do sức khỏe kém và lo lắng về quản trị. Trong lá thư gửi cha Raymond de Cuers, ngày 28.6.1866, Eymard miêu tả việc tìm mảnh đất như là ‘một nét vẽ của Đấng Quan Phòng, vì cần có một nơi cho Nhà tập và đó còn là căn nhà thanh vắng:  5.75 mẫu đất, 1 ngôi nhà còn điều kiện khá tốt gồm 25 phòng và ngôi nhà nguyện phù hợp’. Hầu hết do cha Michel Chanuet,sss và gia đình quảng đại của ngài đã mua với giá là 77,000 francs.

Eymard đã tĩnh tâm cá nhân tại Saint-Maurice từ 27.04 đến 02.05.1868. Mười tám trang ghi chú trong thời gian tĩnh tâm là một tài liệu quan trọng về những tư tưởng sâu xa nhất và đời sống thiêng liêng của ngài. Suốt cuộc tĩnh tâm này, ngày 01.05.1868, tước hiệu Đức Mẹ Thánh Thể đầu tiên được cha Eymard đặt cho Mẹ. Tuy nhiên, trong các thư từ, cha Eymard đã dùng từ này ngay từ năm 1859 và nhiều lần vào năm 1861.

Theo truyền thống, chúng ta biết rằng, cha Eymard gọi tước hiệu Đức mẹ Thánh Thể, một số học giả đương thời lúc ấy nhận xét rằng ban đầu cha muốn nói là Đức Mẹ Phòng Tiệc Ly (ám chỉ ‘phòng trên’ nơi đã diễn ra Bữa Tiệc ly). Có ý kiến cho rằng, thuật ngữ Đức Mẹ Thánh Thể là do cha Raymond de Cuers; Và sau cái chết của cha Eymard, do Albert Tesnière thúc đẩy mạnh mẽ  việc tôn kính tước hiệu mới này được lan truyền. Cuối cùng, Giáo Hội đã chính thức công nhận tước hiệu này.

Dòng Thánh Thể ban đầu đã muốn chôn cất cha Eymard tại Saint-Maurice. Bức điện tín diễn tả ước muốn đó từ Paris gửi tới La Mure khi vừa được tin về cái chết của cha Eymard , nhưng các chị của cha Eymard và người dân La Mure muốn dành ưu tiên cho mai táng tại địa phương. Nhiều thành viên trong dòng được chôn tại nghĩa trang Saint-Maurice, bao gồm cả người đồng thành lập dòng, cha Raymond de Cuers chết ngày 21.06.1871.

Ngôi mộ cha Raymond de Cuers.

Thông tin bổ sung
Xin ghi chú rằng phần đất hiện nay tại Saint-Maurice-Montcouronne thuộc quyền sở hữu tư nhân và không mở cửa cho công chúng.

Mộ cha Raymond de Cuers và các thành viên ban đầu được chôn tại nghĩa trang Saint-Maurice-Mountcouronne (trên đường de l’Égalité cách trung tâm thị trấn khoảng 250 m, phía nam)

LINKS
Heritage of Saint-Maurice-Montcouronne : RM3V website [French]
Saint-Maurice-Montcouronne (official site) [French]
Tony McSweeney SSS: Our Lady of the Cenacle: Some reflections concerning the Feast of Our Lady of the Blessed Sacrament

SAINT-BONNET-LE-FROID

Le Château de Saint-Bonnet-le-Froid route D113, between Col de La Luère and Col de Malval, west of Lyon, France [ Map ]

 Saint-Bonnet-le-Froid là một khu nhà cổ phức tạp, bao gồm tòa lâu đài do các đan sĩ Biển Đức bảo quản, một ngôi nhà nguyện và những mảnh vườn.  Giữa thế kỷ 19, nơi này do Adolphe và Marguerite Blanc de Saint-Bonnet sở hữu.

Ý nghĩa
Khi Eymard thực hiện công việc lớn là viết Hiến pháp dòng Thánh Thể và Nữ tỳ Thánh Thể, ngài đang đau nặng. Tháng 10.1863, ngài lưu lại gia đình anh rể cha Michael Chanuet (một cha trẻ trong dòng), có nhà ở vùng quê tại Saint-Bonnet.

Ở Saint-Bonnet, đột nhiên sức khỏe cha Eymard tiến triển và ngài tiến hành công việc viết Hiến pháp.

‘Tại đây, công việc thật dễ dàng cho tôi’, cha Eymard nói ‘Tôi đã làm việc như chưa từng làm việc’.

Ngài kéo dài thời gian đến cả tháng ở tại Saint-Bonnet, sống như một ẩn sĩ trong ‘bình an hoàn toàn, thanh tịnh và thành tâm’ như ngài mô tả.

Thông tin bổ sung
Marguerite Blanc de Saint-Bonnet là chị của cha Chanuet. Chồng bà là Adolphe (1815-1880) [Antoine Joseph Élisée Adolphe Blanc de Saint-Bonnet] , nhà triết học người Pháp có ảnh hưởng vào giữa thế kỷ 19, nhưng ngày nay nhiều người không biết. Giữa những tác phẩm của Blanc de Saint-Bonnet có cuốn sách nói về tương quan giữa đau khổ và nhân đức (De La Douleur, 1848). Ông cũng phát triển lý thuyết về ơn vô ngộ của Đức Giáo Hoàng. Cha Eymard xem ông như là ‘người cố vấn khôn ngoan cận kề Thiên Chúa’.

LINKS
Le château de St Bonnet-le-Froid (Saint-Bonnet-le-Froid Castle): Friends of Abresle website. Có những chi tiết về các hướng dẫn tham quan.

SAINT-ROMANS

Calvary và Nhà nguyện, Khu nghĩa trang ngôi làng Saint-Romans, gần Chatte, France [ Map ]

Calvary (1712) và ngôi nhà nguyện đá nhỏ (La Chapelle du Calvaire) là những khu vực gần đỉnh đồi đá trong nghĩa trang Saint-Romans. Trong nhà nguyện, một cửa sổ kính màu mới tuyệt đẹp mô tả Thánh Peter Julian Eymard.

Ý nghĩa
Trong công việc mục vụ đầu tiên với tư cách là cha phó Chatte (1834-1837), Eymard viếng thăm Calvary ở đồi đá Saint-Romans. Năm 1836, tại đây ngài có một kinh nghiệm thiêng liêng và sau đó ngài gọi là ‘hưởng nếm Thiên Chúa’. Đồi đá Saint-Romans trở thành điểm tham chiếu tâm linh mà sau này ngài trở lại đó nhiều lần. Năm 1864, Eymard nói về Saint-Romans như là ‘. . . tảng đá màu nhiệm của tôi, nơi đó tôi có thể chiêm ngưỡng tất cả vẻ đẹp thanh khiết của thiên đàng’.  [Eymard to Mme Jourdan, 5 May 1864, quoted in André Guitton, Peter Julian Eymard: Apostle of the Eucharist (Ponteranica: Centro Eucaristico, 1996), 37]

SAINT-CHAMOND

Nhà thờ Saint-Pierre, Saint-Chamond (St Peter’s Church, Saint-Chamond) Giữa Saint-Pierre và bến tàu sông Loire, France (enter from place Saint-Pierre) [ Map ]

Phiến đá lịch sử nhà thờ Saint-Pierre (St Peter) tại Saint-Chamond được thánh hiến năm 1609 như phần mở rộng nhà nguyện cổ dâng kính Thánh Barbara. Tháp chuông được xây giữa năm 1617 và 1645. Có nhiều nhà nguyện nhỏ vây chung quanh gian giữa nhà thờ đặc biệt này, nơi mà có một số kiệt tác chạm trổ bằng gỗ, cả trần nhà bằng gỗ và sàn nhà làm bằng bia mộ cũ. Một dãy các bức tranh phác họa cuộc đời Thánh Phê-rô. Nội thất được hình thành từ năm 1834, do các thành viên gia đình Callinet, nổi tiếng về việc trang trí nội thất.

Ý nghĩa
Hơn một lần, cha Eymard rao giảng thành công tại giáo xứ Saint-Pierre ở Saint-Chamond. Trong sứ vụ đầu tiên của ngài, từ 29.03 đến 27.04.1851, đã có số đông người trở về với Chúa. Cha Eymard luôn được thấy trong nhà nguyện và giải tội cho tới 10 – 11g tối và lại khởi đầu công việc thường ngày. Công việc khiến ngài mệt lử và không còn thời gian cho riêng mình, ngay cả bữa ăn. Cha đã viết cho Marguerite Guillot ‘Tôi dành mọi sự cho các linh hồn’.

Trong sứ vụ sau cùng của cha tại Saint-Chamond vào tháng 2 và tháng 3 năm 1856, ngài tâm sự với cha Raymond de Cuers rằng ngài ‘đau khổ và hy vọng’ khi chờ tin của cha Julien Favre, Bề trên dòng Đức Mẹ, cha ấy đã hứa dâng trình Đức Giáo Hoàng dự án lập dòng Thánh Thể với điều kiện cha Eymard đồng ý theo quyết định của Đức Giáo Hoàng.

LINKS
Église Saint-Pierre, St Chamond: Patrimoine de France (Heritage citation)
Ville de St Chamond (Town of Saint-Chamond) [French]