Linh đạo cha thánh Eymard

Thứ năm Tuần Thánh

3. Giao ước của Đức Giê-su Ki-tô

Trong huấn thị dành cho các tu sĩ và giáo dân tại Nhà nguyện Paris vào Thứ Năm Tuần Thánh cuối cùng của mình, cha Eymard đã suy niệm về Thánh Thể là một Giao ước. Đức Giê-su, tại Phòng Tiệc Ly, không để lại một điều gì đó cho Giáo hội của Người làm gia sản, nhưng Người để lại chính mình Người. Đó là Thánh Thể, tặng phẩm Đức Ki-tô ban cho nhân loại vào đêm trước khi Người chịu khổ nạn! Một tặng phẩm gắn liền với Giáo hội cho đến khi Người ngự đến trong vinh quang.

“Này là Máu Thầy, Máu Giao ước mới” [Lc 22,20].

Hôm nay là ngày đẹp nhất của Chúa chúng ta, là mầu nhiệm tuyệt vời và vĩ đại nhất trong mọi mầu nhiệm của Người. Ngày trọng đại nhất của tình yêu và vẻ dịu hiền của Người. Người sẽ sống mãi- chứ không chỉ đơn giản là cho tới ngày mai, chỉ một ngày. Những đau khổ của Người sẽ chấm dứt, nhưng hôm nay Người biến mình thành bí tích cho đến tận thế, hầu hết thảy chúng ta có thể cảm nhận được tình yêu của Người.

Chúng ta hãy suy ngắm Thánh Thể là một giao ước. Người là Cha, Người sẽ thiết lập giao ước, Người sẽ chịu chết. […] Chúa chúng ta sẽ hiến mình – Người không có gì khác, không chút của cải vật chất nào […] Thế nhưng, Người ước mong thiết lập một giao ước; bằng gì vậy nhỉ? Thưa, bằng chính mình Người. Chúng ta là những người thừa kế, là những thụ tạo, được cứu chuộc, được yêu thương đến cuồng dại. Người hiến mình. Người là Thiên Chúa và là con người. Là Thiên Chúa, Người chính là ông chủ của nhân tính của Người- Người thực sự ban nhân tính ấy cho chúng ta […] Đó chính là Thánh Thể: thân mình Người, linh hồn Người, và thần tính của Người, đã trở nên bánh- một tấm bánh được biến đổi thành Thiên Chúa. […] Và đây chính là gia tài của chúng ta […].

Hãy kính phục phát minh của Thiên Chúa! Phát minh gì vậy? Không phải chân lý, cũng không phải ân sủng, hay các mầu nhiệm của Thiên Chúa. Người đã phát minh ra công trình của tình yêu. Tình yêu thì sáng tạo, và ai không biết cách ngạc nhiên và tác tạo, sẽ không biết cách yêu. Quả là một phát minh! Ai có thể biết trước được điều đó? Ôi chao! Thực sự chỉ có Người mà thôi. Từ trước tới nay, chưa ai khám phá ra điều ấy- ngay cả đến thiên thần cũng không! Chúa đã làm điều ấy! “Hồn các con cần lương thực. Ta sẽ trở thành thứ lương thực ấy”. Và Người chịu chết nhằm để lại cho chúng ta lương thực, và một vài lương thực bổ dưỡng. Người đem lại niềm an ủi khi để lại cho chúng ta lương thực. Người cha trong gia đình đã tần tảo cả đời để đem lại cho con cái mình của ăn khi ông chết. Chúng ta có thể nói rằng Chúa chỉ làm việc để đem lại lương thực cho con cái mình, mọi sự đều quy hướng về Thánh Thể. Giống như người nông phu, ngay từ lần trồng cấy đầu tiên, đã nghiệm thấy khả năng lắng nghe sẽ giúp dưỡng nuôi anh ta. […]

Ấy thế nhưng, đã 1800 năm rồi, gia tài ấy đến được với tôi bằng cách nào? Hết thảy chúng ta đều là trẻ vị thành niên nhờ Phép Rửa, chúng ta cần người giám hộ để có thể quản lý được gia tài của mình. Sứ vụ của các vị giám hộ chính là bảo tồn gia tài của chúng ta, và giúp chúng ta thành những con người trưởng thành. Giờ đây, những người bảo vệ gia tài của chúng ta chính là các tông đồ, cùng với một Người đứng đầu bất tử. Người sẽ ban gia tài ấy, được chứa đựng trong những tấm bánh và quyền năng chỉ dành cho mình vị linh mục, Người ban gia tài ấy để nuôi dưỡng từng tín hữu- để khai mở gia tài ấy- và ban cho từng người một bánh thánh đã được truyền phép trong Bữa Tiệc Ly. Các tông đồ phân chia thế giới ra, và phân phát gia tài cho những kẻ thừa kế.

Và gia tài của anh chị em phát xuất từ Phòng Tiệc Ly, và mọi Bánh Thánh đều được truyền phép tại Phòng Tiệc Ly. Vì Chúa chúng ta ở đó, không phải là quá khứ, cũng không phải là tương lai. Người biết hết thảy chúng ta, dĩ nhiên rồi; giống như Gia-cóp, Người chúc lành cho hết thảy chúng ta [x. St 49]- Người ban gia tài cho mỗi chúng ta, về mặt nguyên tắc. Vị thủ lãnh đã nhận gia tài ấy cho chúng ta rồi, còn chúng ta thì được yêu thương trong 1800 năm, trước cả khi chúng ta biết điều đó! Còn hơn cả một danh hiệu nữa! Chúng ta ở đó, Người đã tính cả chúng ta luôn rồi. Và thậm chí với tình yêu cao cả hơn dành cho chúng ta, Người đã ban cho chúng ta không chỉ một tấm bánh, nhưng là một trăm, vô số kể bánh thánh! Anh chị em có nghĩ đến điều ấy không? Đừng để cho bất kỳ tấm bánh nào trở nên vô bổ nhé! Chúa muốn yêu thương chúng ta vô cùng! Bánh thánh của anh chị em đã sẵn đây rồi, đừng để lại bất kỳ bánh thánh nào ở đó nhé! Chúa đến chỉ để sinh lợi mà thôi! Và anh chị em sẽ để Người lại đó! Không, đừng bao giờ làm thế- hãy để chính Người sinh lợi! Hãy lo làm ăn sinh lợi đang khi tôi đi vắng [Lc 19,13]. Đấng Cứu Độ chẳng phải tốt lành lắm sao!

Hãy nhìn xem Người đang ở đó, giữa các tông đồ của Người! Hãy lắng nghe Người, hãy đón nhận lời của Người: Này là Mình Thầy bị nộp vì anh em [x. Lc 22,19]. Đây là hành động sau cùng của Chúa chúng ta. Người đã hiến mình và không làm gì thêm sốt, Người không còn thuộc về chính mình nữa, nhưng thuộc về chúng ta. Và Người sẽ thiết lập nó, hầu chúng ta có thể ăn nó! […] Hãy ăn, đó là phần của anh chị em […] Người đã ban nó cho anh chị em, tất cả những gì anh chị em phải làm là cầm lấy nó. Ôi chao! Thật vinh dự thay! Thật đáng yêu thay! Chúng ta sẽ chỉ hiểu được Chúa khi đến thời đến buổi, lúc chúng ta không cần tới Người mà thôi. Cách nói này làm tôi hài lòng, đó là: anh chị em là con cái của Thánh Thể. Thánh Thể chính là lề luật, là sự sống của anh chị em.

Ngày 9 tháng 4 năm 1868, Thứ Năm Tuần Thánh (Bài giảng chung tại Nhà nguyện của tu sĩ ở Paris. PP 56)

  1. Thánh Thể: Giao ước tình yêu của Đức Giê-su Ki-tô

Chính tình yêu đã thôi thúc Đức Giê-su thiết lập Thánh Thể trong Bữa Tiệc Ly. Người tự nguyện ở lại với các môn đồ của mình như một người bạn đồng hành trên cuộc lữ hành, như một lễ vật hòa giải, như của ăn và bánh ban sự sống. Thế nên, chính Thánh Thể, Manna mới, cột lửa, suối nước đem lại sự sống, mới có thể giúp chúng ta cảm nếm được Miền Đất Hứa thực sự, và thiên đàng dịu ngọt.

“Người yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, Người yêu thương họ đến cùng” [Ga 13,1]

Tình yêu của Đức Giê-su Ki-tô dành cho nhân loại chiếu tỏa mọi vẻ rạng ngời qua việc thiết lập bí tích Thánh Thể. Chúng ta hãy chiêm ngắm tình yêu ấy trong chiến thắng vĩnh hằng của nó, đem lại cho nhân loại bằng chứng tình yêu tha thiết và hào phóng nhất. Vì Thánh Thể chính là giao ước tình yêu của Đức Giê-su Ki-tô. […]

Việc thiết lập

Trong Bữa Tiệc Ly với các môn đồ của mình, trước khi nói những lời tạm biệt sau cùng và phó mình vào tay kẻ thù, thì theo các thánh sử, Đức Giê-su đã cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn Chúa Cha vì phép lạ Người đã thực hiện, thánh hóa bánh ấy, bẻ ra và trao cho các môn đồ, mà nói: Hãy cầm lấy mà ăn, này là Mình Thầy. Và các ông đã ăn. Tiếp đến, khi cầm lấy chén rượu, Người dâng lời tạ ơn Chúa Cha, và trao cho các môn đồ, Người nói với các ông: Này là Máu Thầy, Máu giao ước mới, đổ ra vì anh em và muôn người được tha tội, anh em hãy cầm lấy mà uống. Và các ông đã uống [Mt 26,28]. Hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy [Lc 22,19]. Này đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế [Mt 28,20]. Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến với anh em. Thầy sẽ sống với anh em [x. Ga 14,18].

Đây chính là giao ước, tình yêu của Đức Giê-su được đáp đền. Người sẽ trỗi dậy trong vinh quang và uy quyền cùng với Chúa Cha, và Người sẽ hằng đầy ân sủng và tình yêu khi ở với loài người. Người sẽ ngự, được siêu tôn, bên hữu Đức Chúa Cha, và Người vẫn sẽ được siêu tôn bằng tình yêu ở giữa loài người. Người sẽ có hai thiên đàng: Ta sẽ tạo ra trời mới [Is 65,17]. Người sẽ có hai cung điện, một cung điện ở giữa các thiên thần, một ở giữa loài người. Cùng một lúc, Người sẽ vừa ở trên thiên đàng, vừa ở dưới thế- sự sống nảy sinh từ tình yêu. […] Đây chính là tình yêu của Đức Giê-su nơi Nhiệm tích Thánh Thể. Người đáp cứu mọi khát vọng, mọi nhu cầu của nhân loại.

Bạn đồng hành trong cuộc sống

Con người cần một người bạn đồng hành trong chốn lưu đày, một người bạn trong xã hội- tình yêu khát mong đời sống cộng đoàn. Và vì thế! Đức Giê-su Ki-tô sẽ ở với loài người. Người cư ngụ giữa chúng ta
[Ga 1,14]. Người sẽ sống cạnh con người, với con người, như người cha ở với con cái, như người bạn ở với người bạn, và như vị vua ở giữa quần thần của mình.

  • Con người sẽ không phải đến Bê-lem, hay đến Giê-ru-sa-lem để xem thấy Đức Giê-su Ki-tô, nhưng Người ở ngay bên con người.

  • Được trông thấy Người và hàn huyên với Người, sẽ không còn những ngày, những giờ phút thất vọng nữa- Đức Giê- su luôn sẵn lòng đợi chờ chúng ta.

  • Xung quanh Đức Giê-su, sẽ không còn hàng rào nào, không còn vệ sĩ nào… ngay cả các thiên thần cũng không.

  • Con người không cần ai đó giới thiệu Người cho mình…Một người bạn, một đứa trẻ chạy thẳng đến bạn hữu của mình, đến cha của nó.

  • Thế nhưng, để vẻ rạng ngời của vinh quang nơi Người, sự vĩ đại của quyền năng nơi Người, không làm mất đi vẻ uy nghi của sự hoàn thiện nơi Người, cũng như không làm cho con người sợ hãi, thì Đức Giê-su đã che khuất dung nhan đáng tôn thờ của Người, quyền năng của Người, và thậm chí là các nhân đức của Người đi, hầu chỉ có tình yêu của Người là được nhìn thấy mà thôi. Hãy nghe thánh Gioan nói: Bấy giờ, tôi thấy trời mới đất mới, vì trời cũ đất cũ đã biến mất, và biển cũng không còn nữa. Và tôi thấy Thành Thánh là Giê-ru-sa-lem mới, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống, sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân Rồi tôi nghe từ phía ngai có tiếng hô to: “Đây là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại, Người sẽ cư ngụ cùng với họ. Họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên-Chúa-ở-cùng-họ.

Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất”. Đấng ngự trên ngai phán: “Này đây Ta đổi mới mọi sự” [Kh 21,1-5].

Đức Giê-su, lễ vật hy sinh

Tình yêu khiến Đức Giê-su trở thành lễ vật hy sinh đem lại ơn cứu chuộc trên đồi Can-vê, qua việc đổ máu mình ra.

  • Trên thiên đàng, Đức Giê-su vinh hiển chính là Đấng chuyển cầu cùng Chúa Cha, Bấy giờ, tôi thấy một Con Chiên, trông như thể đã bị giết [Kh 5,6]- Chúng ta có một Đấng bảo trợ [1Ga 2,1], Ai chuyển cầu cho chúng ta [Rm 8,34].

  • Trên bàn thờ, Đức Giê-su chính là lễ vật giao hòa vì con người- Vừa là thượng tế, vừa là lễ vật đền tội trên đồi Can-vê [Công đồng Trento].

  • Lễ vật hy sinh này dâng chính mình cho Chúa Cha, vì con người tiếp tục xúc phạm đến Người và chọc giận Thiên Chúa một cột thu lôi.

  • Người tiếp tục bị sát tế, mặc dầu dưới hình thức huyền nhiệm, nhưng rất thực.

  • Người thông truyền cho mỗi người nhân đức của Người (máu của chiên vượt qua) và, qua những ai kết hiệp với Người, Người tiếp tục sự sống của mình trong tư cách Đấng Cứu Độ.

Đức Giê-su, của ăn nuôi dưỡng

Đức Giê-su phán: Thầy là sự sống- Ego sum vita [Ga 14,6]. Thầy đã đến để cho anh em được sống, và sống dồi dào [Ga 10,10]; con người nghèo khổ đang đói khát sự sống thần linh này. Trong những ngày đời của kiếp sống nhân thế, Người đã trao ban sự sống ấy cho con người từng chút từng chút một- con người đã nghe được tiếng Người, đã nhận lãnh bao hồng ân từ lòng nhân từ của Người, và đã tận hưởng được sự sống của Người. Trên núi Ta-bo, các Tông đồ đã khát khao ở lại đó: Chúng con ở đây thật là hay [Mt 17,4].

Nơi Thánh Thể, Đức Giê-su thông truyền sự sung mãn lớn lao của sự sống này- canh tân [?] hết mọi ích lợi của Người. Người thông truyền cho con người thân mình và máu của Người… Con người sống nhờ Đức Giê-su Ki-tô và Đức Giê- su Ki-tô trở thành bánh ban sự sống cho con người; hãy lắng nghe Người: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống. Người Do-thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?” Đức Giê-su nói với họ: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy. Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời”. [Ga 6,51-59]

Tiếp đến, đây chính là Đức Giê-su nơi Thánh Thể, là bạn đồng hành, là lễ vật hy sinh, và của ăn nuôi dưỡng nhân loại đang trên đường lữ hành, và Người cũng chính là tất cả những điều ấy- và Người sẽ mãi mãi là như vậy. Thánh Thể thay thế cho manna trong sa mạc [x. Xh 16,31]; là cột mây và cột lửa [x. Xh 13,21]. Là suối nguồn sự sống. Thánh Thể làm thay đổi sa mạc [?] dẫn con người đến miền đất hứa thực sự, bước vào một thiên đàng hoan lạc.

(Bài giảng chung tại các giáo xứ. PG 274,1-6)

Thứ Sáu Tuần Thánh

  1. Hy tế và tình yêu của Đức Giê-su Ki- tô

Chúng ta đang ở năm 1868, đây là năm cuối đời của cha Eymard và đây là bài giảng Thứ Sáu Tuần Thánh sau cùng của ngài. Ngài hồi tưởng lại Cuộc Khổ Nạn của Chúa, và nhấn mạnh đến hai khía cạnh:

  • Chính tình yêu dành cho chúng ta khiến Đức Ki-tô hy sinh vinh quang của mình, và chấp nhận mọi sự sỉ nhục.

  • Chính tình yêu dành cho chúng ta thôi thúc Người chia sẻ những khổ đau cả về thể lý lẫn luân lý hết sức tàn bạo.

Đây là mầu nhiệm mà Hội thánh chiêm ngắm trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh.  “Tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,15).

Nếu không có cái chết của Chúa, chúng ta có thể đã nghi ngờ về tình yêu của Người. Vì mọi tình yêu đều phải tự chứng minh qua đau khổ, hy sinh, và cái chết. Thiên Chúa thật nhân lành, nhưng ai dám tin rằng Người yêu chúng ta? Vì ý niệm về tình yêu cho thấy ý niệm về tặng phẩm và cái chết. Bây giờ, ai dám tin rằng Thiên Chúa yêu chúng ta theo nghĩa đó? Tặng phẩm minh chứng sự nhân lành, nhưng quà tặng tự hiến (gift of self) lại minh chứng tình yêu. Chúa yêu chúng ta đến mức nào? Có hai ý tưởng: tình yêu mà Chúa dành cho con người đòi buộc Người phải hy sinh vinh quang của Người, và hiến mình Người ngang qua đau khổ.

Đức Giê-su hy sinh vinh quang của Người

Ngôi Lời ban cho chúng ta vinh quang của Người, quyền uy của Người, và con người của Người vì ba lý do sau: Để giãi tỏ cho chúng ta tình yêu bị che khuất của mình, Người đã tự ẩn mình để không làm chúng ta hãi sợ: Qua việc hạ sinh của  mình, Người đã trở thành người bạn đồng hành của chúng ta. Để dạy cho chúng ta một bài học, nghĩa là Người muốn định hình chúng ta trong vinh quang đích thực. Để đền thay mọi tội kiêu ngạo của chúng ta.

Giờ đây, hãy ngắm nhìn hết thảy những điều ấy trong Cuộc Thương Khó. Hãy mường tượng ra cuộc Thương Khó mà không xúc phạm đến thanh danh của Người, nhất là về nhân đức nhịn nhục của Người. Trong vườn Cây Dầu, Người không thể đi tiếp, và Người xin sự trợ giúp của ba tông đồ đáng thương; và Người đã rên rỉ cho đến chết: Lạy Cha, xin cất chén này khỏi con [x. Lc 22,42]. Luôn luôn là ý nghĩ như thế. Tâm trí Người khô khan, con tim Người cảm thấy chán nản, sức lực của Người hao mòn đến độ đổ mồi hôi máu [x. Lc 22,44], và Người ngã sấp mặt xuống đất. Ai đã thấy Người ở đó? Phải chăng Đấng Toàn Năng lại bị sỉ nhục- Người muốn động viên chúng ta, hầu trở thành mẫu gương và bạn đồng hành với chúng ta trong tình cảnh tương tự.

Một thiên thần đến an ủi Người và Chúa chúng ta đã hiến mình, đến ba lần, cứ mỗi lần nỗi đau lại được cảm nhận. […] mỗi lần nỗi đau lại tái diễn với sự yếu nhược, Người đã hiến mình cho Cha Người! Hãy làm tốt điều ấy nhé. Các tông đồ đã vượt qua nỗi u buồn.

Kế đến, Chúa sẽ chịu sỉ nhục trước công chúng. Người đã phán: Xin cho ý Cha được thể hiện [Lc 22,42], và Người đã đi đến cùng mà không thoái lui. Người đã bắt đầu chịu những nỗi sỉ nhục riêng, hầu ủi an chúng ta khi bị sỉ nhục. Người ủi an chúng ta trong lúc cầu nguyện, và lúc Hiệp Lễ. Hãy tưởng nghĩ đến Người, và kết hiệp với Người.

Quả thế, tại Giê-ru-sa-lem, Người đã chịu sỉ nhục, trước hết bởi các thủ lãnh tôn giáo- là những người đứng đầu hữu hình và hợp pháp- rồi tiếp đến là bởi dân ngoại, điều này ít đau khổ hơn. Nó thiên về cảm xúc hơn là lý trí. Này, mọi thứ đều nghiêng về phía các thượng tế nhằm chống lại Đức Giê-su. Người bị đưa đến trước mặt Khanan, trong khi phải hứng chịu sự khinh khi của đám đầy tớ lăng mạ mình, thì Người bị trói như một tên tội phạm- Người đã bị bắt trói trong Vườn Cây Dầu [x. Ga 18,12-13]- và Người đã tỏ mình theo cách ấy, Người được xem là Đấng Mê-si-a, nay lại phải chịu đau khổ như một tên tội phạm. Xích xiềng của Người, theo ý Chúa Cha, chính là y phục của Người, Người sẽ để chúng lại cho chúng ta làm gia nghiệp, gia nghiệp ấy các vị tử đạo và các vị tuyên giáo đã khoác lên mình.

Kế tiếp là bị giải đến gặp Caipha, trong Thượng Hội Đường, và các luật sĩ đã đợi Người với những ánh mắt hằm hằm- ở đó có những chứng gian! Người chẳng đáp lời nào. Người chấp nhận lời vu khống, để khiêm nhường hơn nữa, khi họ buộc tội Người nhân danh tôn giáo; kế đến Người đã trả lời: Tôi là Đức Ki-tô, các ông sẽ thấy Người [x. Mt 26,64]. Và tất cả bọn họ không chịu khuất phục trước lời đe dọa đầy lòng nhân từ ấy! Gì vậy! Người đã bị báng bổ! Và họ đã vả mặt Người. Và Người trả lời: Nếu tôi nói sai, thì hãy nói sai ở chỗ nào, còn tôi nói phải, thì sao lại đánh tôi? [x. Ga 18,22-23].

Sau đó, Chúa chúng ta lại thinh lặng. Người chỉ hài lòng khi nghe nói đến sự thật mà thôi. Có những lúc người ta nên nói, ngược lại có những lúc người ta nên giữ thinh lặng. Và Người bị kết án phải chết. Và hãy nhớ rằng người có đạo thì còn tệ hơn ma quỷ khi họ sai trái. Họ nắm hai quyền lực: quyền lực phàm nhân, và quyền lực tôn giáo bị lạm dụng. Cũng thế, các thượng tế, các nhà lãnh đạo tôn giáo, và những con người đạo đức có thể chạy theo sự dữ, chẳng hạn như Lucifer, và dùng kiến thức cũng như quyền lực tôn giáo của mình, để bách hại người lành.

Tiếp đến, Người bị bắt trói; Người phải chịu đau khổ đến mức chúng ta không thể nào tưởng tượng nổi. Chính các đầy tớ của các thượng tế: họ tìm kiếm vinh quang khi khiến Người phải đau khổ. Ôi chao! Nếu cuộc chiến xảy ra, thật là run sợ nếu anh chị em thấy một thiên thần sốt mến trở thành một tên đao phủ!

Kế tiếp, suốt đêm đó, chúng ném Người vào một xó xỉnh không đáng dành cho heo! Chúa Cha, các thiên thần, và Mẹ Maria đã nói gì! Này đây, Chúa chúng ta chịu sỉ nhục, mà Chúa Cha chẳng làm một phép lạ nào để cứu Người, giống như trong Vườn Cây Dầu! Đau khổ đến cùng cực. Người ở đó, hoàn toàn thất bại trước đất nước của mình, và trước tất cả những người sùng đạo thời Người. Và một người Do Thái sẽ không được xem là người Do Thái nếu người ấy không lăng mạ Người.

Trước Phi-la-tô, Người đã chịu sỉ nhục, không phải vì danh hiệu Thiên Chúa của Người, nhưng vì danh hiệu quân vương. Người bị kết tội; Phi-la-tô thấy Người vô tội [x. Ga 19,4]. Không ai đứng về phía Người cả. Mà sáu ngày trước, Người đã được tung hô [x. Mt 21,8-9]! Không ai cả! Khi chúng ta không đủ vững tin để chết cho người mình yêu, chúng ta sẽ trở nên hãi sợ, yếu nhược, và thậm chí là xấc xược! “Bao lâu còn giàu sang, thì bấy lâu bạn còn nhiều bằng hữu; nếu bầu trời bị mây mù phủ lấp, thì bạn sẽ cô đơn lẻ loi”. Đó là thế gian, là một bi kịch.

Và vì thế, có Chúa chúng ta. Người đứng về phía sự thật, chứ không bao giờ đứng về phía dân của Người. Ta là vua, để làm chứng cho sự thật. Và họ đã làm gì cho vương quyền của Người? Người bị khinh miệt và bị chế nhạo là vua: vương miện là vòng gai, một chiếc áo choàng, và một cây sậy. Và Phi-la-tô đã dẫn Người ra mà nói: Này là Vua các người [Ga 19,14]. Các người muốn ta làm gì cho ông ấy? Chế giễu ông ấy như vậy chưa đủ ư? Và đám đông la to: Đóng đinh nó vào thập giá! Đóng đinh nó vào thập giá! Xin tha Ba-ra-ba cho chúng tôi! [x. Lc 23,18] Và Phi-la-tô đã rửa tay [x. Mt 27,24]. Đáng thương thay! Ông đã để Người bị kết tội theo tiếng hò hét của họ! Còn đâu là quyền lợi, còn đâu là công lý! Thay vì bào chữa cho Người, thì ông lại sợ hãi, và Đấng Tối Cao không phải là ngẫu tượng, nhưng Người chiến đấu và chết cho thần dân của mình.

Và Chúa chúng ta đã chịu sỉ nhục về tâm thần- đó là sự đau khổ cùng cực nhất. Người là vị lương y và nhà thông thái, thế mà đối với Hê-rô-đê, Người lại bị coi là một tên ngốc. Hê-rô-đê, một ông vua hiền triết! Hê-rô-đê chỉ phô trương kiến thức của mình, sự hão huyền của mình. Ông không biết cách làm sao để ngưng nói, con người thông thái ngạo mạn này ngạc nhiên khi Đức Giê-su không trả lời [x. Lc 23,8-9]. Vì những kẻ ấy tưởng tượng mình là những vị thần, và có quyền trên người khác. Chúng ta đã gặp những kẻ thông thái ngạo mạn xét đoán người khác, đặt những câu hỏi không ăn nhập gì. Chúa vẫn thinh lặng. Thưa anh em, đó là câu trả lời duy nhất.

Tiếp đến, chúng trao cho Chúa chúng ta một áo dài trắng dành cho những tên ngốc. Chúng trả Người lại cho Phi-la-tô, là kẻ có sự khôn ngoan vô biên [x. Lc 23,11]! Vả lại, đối với những kẻ không có đức tin, thì chúng ta là những tên ngốc. Chúng ta nên làm gì? Giống như Chúa: hãy nhận lấy chiếc áo choàng dành cho kẻ ngốc, và tiếp tục làm một tên ngốc. Này Hê-rô-đê và Hê-rô-đi-a_bà ta nhìn Chúa với ánh mắt khinh bỉ! Quá đủ sỉ nhục lắm rồi: một tên ngốc, trong khi Người là vị thông thái; kẻ nổi loạn, trong khi Người quá dịu hiền; một kẻ báng bổ, trong khi Người là Thiên Chúa! Và Người bị kết án về mặt tôn giáo lẫn quân sự.

Và đó chưa phải là hết. Còn nhiều cơn tra tấn hãi hùng, và máy chém đã trở thành ngai tòa dành cho những tử tội. Và các vị tử đạo đã tiến tới cái chết của mình trong vinh quang. Đó là nguyên nhân đem đến vinh dự cho nỗi khổ đau. Nhưng Chúa chúng ta sẽ chết ô nhục; đến khi chết, Người vẫn còn bị sỉ nhục. Người bị kết án như những tên nô lệ. Nhưng mỗi hạng người lại có quyền chọn lựa loại hình kết án, và một người lính không muốn chết như một tên trộm. Hãy để ý thánh Phao- lô đã nói: Tôi là một công dân Rô-ma [x. Cv 22,26-27]. Và sau khi chịu đau khổ nhiều, ngài đã khẳng định hết danh tánh của mình. Thế nhưng, Chúa chúng ta sẽ không nhận được niềm an ủi này. Người bị đem đi giống như những tên nô lệ, và với hai tên trộm, Người được đặt ở giữa, giống như thủ lãnh của chúng vậy. Những kẻ khác không phải vác thánh giá của mình, còn Người thì phải vác, và trên đồi Can-vê, Người bị lột trần như con giun đất vậy! Như thế chưa đủ sao! Người phải đối diện với hết thảy mọi người. Các thượng tế đã không xấu hổ tiến lại và khinh miệt Người ở đó [x. Lc 23,35]! Không, người ta không bao giờ khinh miệt một người chết và tội nhân hoán cải như thế. Chúa chúng ta muốn chịu mọi đau khổ! Và thiên đàng vẫn thinh lặng!

Bên cạnh đó, như một tử thi, Người được đặt vào trong lòng đất; Người sẽ gánh chịu sự sỉ nhục của A-đam: Ngươi là tro bụi và sẽ trở về bụi tro [St 3,19]. Đây là sự sỉ nhục của vị Thiên Chúa làm người. Đây là cách Chúa chúng ta đền tội cho tính kiêu căng của chúng ta. Và chúng ta có biết kiêu căng thực sự là gì không, nó chẳng là gì cả? Hãy để ý cách Chúa đền bù tội lỗi cho tính kiêu căng này- và mỗi khi, trong mọi hành động của chúng ta, tính kiêu căng len lỏi vào, thì Chúa chúng ta sẽ đền bù tội lỗi, trong tư cách con người, một nhân vật của công chúng, và như một vị vua cũng như một Đấng Mê- si-a.

Đức Giê-su Ki-tô hiến mình khi chịu đau khổ

Và bên cạnh đó, Chúa chịu đau khổ, vì tình yêu chịu đau khổ vì đối tượng mình yêu. Giờ đây, tình yêu của Chúa chúng ta là vô biên, và những đau khổ của Người cũng vô biên như vậy. Bởi lẽ đau khổ thì tương đương với tình yêu; thân xác Người được Thần Khí cấu tạo, nhằm chịu đau khổ bao nhiêu có thể. Vì đau khổ thì không dựa trên sức mạnh, nhưng dựa trên tính nhạy cảm và sự mỏng manh. […]

Dưới đây là một vài chi tiết: Trong vườn Cây Dầu, có một nỗi u buồn vì không thể tránh khỏi cái chết [x. Mt 26,38]; nỗi u buồn chính là một cái chết đến chậm, và một nỗi u buồn tột độ gây ra cái chết. Và Chúa đã gánh chịu mọi nỗi u buồn của chúng ta, hầu thánh hóa những nỗi u buồn ấy. Biết bao nỗi u buồn khiến Người than phiền, dầu Người có sức mạnh! Và Chúa đã không được ai an ủi, điều đó cho chúng ta thấy rằng chúng ta chẳng cần ai, cần người khác hơn là cần Người. Còn về thân xác Người, vòng gai đã đâm vào đầu Người; còn về dung nhan Người, ánh mắt của Người chỉ nhìn thấy những kẻ thù. Thật đáng khinh làm sao. Ít ra Người muốn nhìn thấy vài khuôn mặt thờ ơ lãnh đạm; nhưng tất cả những gì Người thấy chỉ là những ánh mắt hằm hằm giận dữ, những cái nhìn quá quắt! Và cả những cú đánh đấm. Dung nhan Người không còn dáng vẻ con người nữa: Người như kẻ bị khinh khi, không ai đếm xỉa tới [x. Is 53,3]. Và dung nhan Người, vì quá đẹp, nên chúng ta không thể nhìn vào Người, bởi lẽ Người mang lấy sự xấu hổ và xấu xa của tội lỗi chúng ta!

Và Người phải chịu khát; máu Người chảy ròng ròng và Người không còn có thể gượng được nữa: Ta khát [Ga 19,28]. Và thậm chí không có chút nước nào cả! ngay cả đến điều chúng ta có thể cho một con vật cũng không_ chút giấm. Cổ của Người, những cánh tay đáng thương của Người, toàn thân Người rên rỉ vì đòn vọt! Không chỗ nào trên mình Người lại không bị đòn! Những tên lý hình hành hạ đã dùng dụng cụ kim loại sắc bén! Và khi Người bị đóng đinh vào thập giá, những đinh nhọn đã đâm thâu vào thần kinh và thớ thịt của Người. Hãy để ý đến nỗi đau điếng nơi bắp thịt của anh chị em đến nỗi nó bị thối rữa hoặc nứt ra! Giống như con rắn đồng trong sa mạc, Người hoàn toàn co quắp người lại!

Và Chúa đã đẩy tình yêu của Người đến mức cuồng dại, không ai ủi an Người. Eli, Eli, – ngay cả Cha của Người cũng không – Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con [Mt 27,46]; khi chúng ta được ủi an về phần hồn, chúng ta có thể băng qua những ngọn lửa đang bùng cháy! Thánh Lau-ren-sô đã không bị thiêu phần bên trong, mà chỉ là phần bên ngoài mà thôi– Nhưng đối với Chúa, thì không có phần nào bị thiêu cả. Tất cả đều là đau khổ và sự ruồng bỏ.

Và sự hiện diện của Mẹ Người khiến Người đau khổ! Thân mẫu Chúa, Trinh Nữ của các trinh nữ, đang khóc than, và nói rằng Mẹ có thể chết đi được. Và Người chính là nguyên nhân gây ra những nỗi ưu phiền của Mẹ! Và Người không dám gọi Mẹ là “thưa Mẹ”, mà là “thưa bà” [x. Ga 19,26], vì sợ rằng Mẹ có thể tan nát đớn đau. Và những nỗi ưu phiền của bạn hữu Người khiến Người đau khổ hơn.

Những bạn hữu của Người, thay vì là một niềm ủi an cho Người, thì bây giờ lại là nỗi khổ đau đối với Người.

Và trong ba giờ đồng hồ, tình yêu của Người đã lưu chuyển máu Người qua các huyết mạch, hầu cứu chuộc chúng ta cách mau chóng hơn, và điều này xảy ra vào thời khắc tội lỗi của A-đam! Đó là cuộc Khổ Nạn. Điều ấy khiến anh chị em nói Đức Giê-su yêu tôi quá đỗi! Thánh Gioan Kim Khẩu nói rằng nếu chỉ có một tội nhân ở trong thế gian, thì Chúa cũng sẽ chết cho người đó. Điều đó xem ra có phần hơi phóng đại quá- Người đã yêu thương tôi [Gl 2,20]. Nếu nghĩ suy về điều ấy, chúng ta sẽ trở thành những kẻ ngu dại của tình yêu, hay chúng ta vẫn ngu muội- những kẻ ngu si, vâng, các thánh nhân đã vui sướng và các ngài có lý do. Đây là điều mà khoa học không thể làm cho anh chị em vui sướng. Dĩ nhiên rồi, anh chị em đáng được Thiên Chúa trả giá. – vì Thiên Chúa đã trả giá đắt mà chuộc lấy anh em [1Cr 6,20]. Và một Ki- tô hữu thì xứng đáng với Đức Giê-su Ki- tô. Vậy Ki-tô hữu phải chăng là quá quý giá? Tôi xứng đáng với Đức Giê-su Ki-tô. Và anh chị em sẽ gạt Người sang một bên, anh chị em sẽ lãnh đạm với Người! Và nếu những đam mê của anh chị em tấn công anh chị em, thì hãy học cách thưa lên rằng: “Ngài cho con quá nhiều như Đức Giê-su Ki-tô chăng?” Anh chị em có thể thấy rõ ma quỷ đang gây xáo trộn, nhằm hủy hoại anh chị em. Nếu anh chị em chẳng đáng là gì cả, thì hắn sẽ để anh chị em yên. Nhưng ma quỷ giết chết Đức Giê-su Ki-tô nơi chúng ta, và hắn muốn đổi mới chiến thắng của mình trên đồi Can-vê! Những đớn đau của hắn cũng như của những người dưới Âm ty không quá nhiều. Đừng ngạc nhiên trước sự nài nỉ của hắn, vì anh chị em chính là một Giê-su Ki-tô.

Ôi chao! Thế nên, chúng ta hãy mến yêu; nỗi đau khổ cùng cực nhất của chúng ta cũng vẫn chưa đủ để yêu mến Chúa. Tội lỗi của chúng ta… chúng ta phải khóc cho những tội lỗi ấy, nhưng đó chưa phải là tất cả, chúng ta phải bước theo Chúa, và làm những điều vĩ đại. Và chúng ta nên ăn năn vì những tội lỗi của mình hơn là hối tiếc vì mất thời gian khi đi vào trong chính bản thân mình, hoặc khi chúng ta chậm trễ trong việc hoán cải bản thân! Vì  vậy, hãy sống cho Người, hãy bước đi với Người, hãy chịu đau khổ vì Người, để đến được thời khắc vinh quang của Thiên Chúa.

Thứ Sáu Tuần Thánh, Ngày 10 tháng 4 năm 1868 (PP 57)