LỄ ĐÊM GIÁNG SINH ABC

Is 9, 1-6; Lc 2, 1-14

  1. Chủ điểm phụng vụ

Lời chúa lễ đêm Giáng Sinh hướng về một Hài Nhi vừa mới được hạ sinh. Đó là Đấng Cứu Độ mà dân Chúa, và cả nhân loại, từng trông đợi; Nay đến thời buổi được Thiên Chúa ban tặng cho nhân loại. Người là vị vua thuộc nhà Đavit nhưng quyền bính của Người trải rộng vô biên. Và còn hơn thế nữa, Người là Đấng Cứu Độ, là Kitô Đức Chúa.

      Điều bất ngờ là nhân vật thần linh ấy lại là Hài Nhi được người Mẹ đồng trinh Maria sinh ra trong cảnh nghèo nàn: bọc tã, đặt nằm trong máng cỏ.

Bài đọc 1: Isaia loan báo tin vui cho dân Chúa đang lần bước giữa tối tăm rằng ánh sáng sẽ bừng lên soi chiếu họ, số phận họ sắp đổi thay bởi vì Chúa sắp ra tay bẻ gãy mọi đàn áp đè trên họ và nhất là vì Chúa ban cho họ một Hài Nhi chào đời để cứu họ. Hài Nhi này được trang bị quyền lực thần linh (nhận ra qua các tước hiệu) để phục hồi, mở rộng nhà Đavit trong công minh chính trực, hoàn tất lời Thiên Chúa đoan hứa.

 Tin Mừng thuật lại việc Giuse và Maria phải tuân lệnh hoàng đế La mã, về Bêlem đăng kí kiểm tra dân số. Lúc đó, Maria lại đến thời sinh nở. Bà hạ sinh một con trai. Đó là Đấng Cứu Độ, là Kitô Chúa. Hai hình ảnh trái ngược nhau đã được Luca phối hợp để làm nổi bật dung mạo vừa thần linh, vừa nhân loại của Hài Nhi: không tìm được chỗ trọ, nghèo hèn, được quấn tã, đặt nằm trong máng cỏ; Nhưng Em lại được thiên sứ ca ngợi, việc Em ra đời là niềm vui trọng đại cho toàn dân: Em chính là Đấng Cứu Độ, là Kitô Chúa.

BÀI ĐỌC I: Is 9, 1-6

  1. Văn mạch

Trong Isaia đệ nhất, có “Tuyển tập nhỏ về đấng Emmanuel” (Is 7-12). Được gọi vậy vì tuyển tập này có 3 trích đoạn vạch ra vài nét dung mạo của vị thiên sai này. Đó là một người con được Thiên Chúa ân tặng cho nhà Đavit để thực hiện công trình từ bao đời Thiên Chúa đã hứa cho các tổ phụ và cho nhà Đavit.

Trích đoạn 1 (7, 14-17) cho thấy cội nguồn lạ lùng và tên của Đấng ấy: Thiên Chúa sẽ ban cho nhà Đavit một hậu duệ được sinh ra bởi 1 TRINH NỮ, tên Người là Emmanuel. Điểm nhấn là CĂN TÍNH.

Trích đoạn 2 (9, 1-6): Đấng ấy là hồng ân thần linh, là ánh sáng được Thiên Chúa gởi đến xóa tan bóng đêm cho dân Chúa, giải cứu họ, mang lại cho họ niềm vui. Điểm nhấn ở đây là SỨ MẠNG: trong lịch sử (9, 3-4); và trong vĩnh cửu (9, 5: các tước hiệu; 9, 6: tầm cỡ vũ trụ và vĩnh cửu. Tất cả là hoa trái của tình yêu trung tín của Thiên Chúa.)

 Trích đoạn 3 (11, 1-9) mô tả Đấng ấy như là Đavit mới, tràn đầy ân huệ Thần Khí. Do đó Người cai trị công minh, tái tạo lại sự bình an, hài hòa của Eden nguyên thủy nhờ việc làm cho mọi người hiểu biết Yavê. Điểm nhấn: THÀNH QUẢ CÁNH CHUNG.

Bài đọc 1 của lễ đêm Giáng Sinh là trích đoạn thứ 2.

  1. Phân tích

  2. Loan báo tin vui: số phận đổi thay (Is 9, 1-2)

  • Hình ảnh diễn tả niềm vui:

– Tối/sáng: “dân đi trong bóng tối, nay thấy ánh sáng bừng lên” (1)

– Mùa gặt: “như thiên hạ vui mừng trong mùa gặt” (2d)

– Chiến thắng: như người ta hoan hỷ khi chia chiến phẩm (2đ)

  • Cội nguồn của niềm vui do Chúa ban tặng (2abc)

  1. Lý do trước mắt của niềm vui (Is 9, 2-4)

  • Được giải cứu khỏi nô lệ khốn cùng: Thiên Chúa bẻ gãy “cái ách”, “cây gậy”, “ngọn roi” áp bức đè lên dân (2-3b)

 Điển tích minh họa: “như trong ngày chiến thắng Mađian” (3c)

  • Không còn chiến tranh: thiêu đốt tất cả dụng cụ chiến tranh: giày lính, “áo choàng đẫm máu” (4)

Hai phần a và b sẽ chú giải trong Chúa Nhật Thường Niên 3A. Hôm nay chỉ chú trọng đến lý do chính liên quan đến chủ đề phụng vụ Giáng Sinh: một Hài Nhi được sinh ra cho ta.

  1. Lý do thâm sâu chính yếu của niềm vui (Is 9, 5-6)

  • Thiên chúa ban tặng 1 con trai: “một trẻ thơ chào đời để cứu ta” (5ab)

  • Sứ mạng của người con: đảm nhận quyền bính trong tư cách là: “cố vấn kỳ diệu”: “Thần Linh dũng mãnh”: “người cha muôn thuở”; “thủ lãnh hoà bình” (5cdđ)

– “Mở rộng quyền bính, lập nền hòa bình vô tận cho ngai vàng và vương quốc của Đavit” (6ab)

– Củng cố vương quốc trên nền tảng chính trực công minh (6cd)

  • Niên đại của vương triều bao trùm cả dòng lịch sử: “từ nay đến mãi muôn đời” (6đ)

  • Đó là công trình của tình yêu nồng nàn của “Yavê các đạo binh” (6cg)

Câu 5-6 trình bày lý do thâm sâu, chính yếu của niềm vui của dân Chúa: vị vua Mêsia đã lên ngôi, đăng quang hiển trị khai mở một vương triều mới đặt nền trên chính trực công minh với tầm cỡ bao trùm hoàn vũ và tồn tại vĩnh viễn. Thật vậy,mặc dù 2 câu này mở đầu bằng việc một trẻ thơ được sinh ra, nhưng nội dung của 2 câu ám chỉ khá rõ đến việc đăng quang của một tân vương. Trong Tv 2,7, việc đăng quang được coi như được phó trao quyền bính và trở thành nghĩa tử của Yavê: “Con là con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra con”.

 Một trẻ thơ chào đời: so sánh với các đoạn Kinh Thánh có trước, cách nói này giúp ta nhận ra được cội nguồn, căn tính của quân vương. Thật vậy cụm từ trên phải được dịch sát là “một trẻ thơ đã được sinh ra”. Cách nói này gợi lại Is7, 14 và St 3, 15: “trẻ thơ” đó là quà tặng của Thiên Chúa để hồi phục nhân loại, để tái thiết nhà Đavit đưa công trình của Chúa đến chỗ hoàn tất. Qua “trẻ thơ” đó, Thiên Chúa thực hiện trọn vẹn lời đoan hứa với nhà Đavit và cả với nhân loại nữa.

Người gánh vác quyền bính trên vai: dọi lại hình ảnh của St 49,10: vương trượng nhà Giacob, của Giuđa nay đã tìm được chủ, người mà muôn dân vâng phục chính là “trẻ thơ” này; và Ds 24, 17 loan báo về “vì sao xuất hiện từ nhà Giacob” nay ứng nghiệm nơi em bé này. Em sẽ là tân vương, là vị vua hòa bình (Dcr 9, 9-10, xem CGKPV “Sách các ngôn sứ” trang 859 q) chăn dắt dân an cư lạc nghiệp  (Mk 5,3), Người sẽ thống nhất sơn hà, qui tụ anh em tản mác trở về (Mk 5,2) và đặc biệt người có nguồn gốc từ xa xưa, từ nơi Thiên Chúa (xem Mk 5,1 và Chúa Nhật 4C Mùa Vọng)

 Cụm từ “gánh vác… trên vai” gợi lại việc trao y phục, quyền bính, chìa khóa trong nghi thức trao quyền (Is 22, 21-22). Áp dụng vào tân vương thì đây là nghi thức phong vương: choàng cẩm bào và đặt danh hiệu (sđd 56 k).

 “Danh hiệu của Người là”: danh hiệu ở đây là tên của triều đại thường dùng để ghi niên hiệu của 1 vua, được trao cho tân vương lúc đăng quang. Người ta tìm thấy ở Ai Cập một nghi thức tương tự.Trong c.5 những tên được ban cho vua thực ra là thuộc tính của thần linh. Điều đó hàm ý nhờ Chúa thương ban tặng các đặc tính thần linh ấy, tân vương được trở thành “Con của YaVê” (Comprendre la Parole năm C trang 86).

 “Cố vấn kỳ diệu” là người khôn ngoan, mưu lược ,biết những gì phù hợp ý Chúa và cho lời khuyên phù hợp. Đây là vai trò ngôn sứ của vua. Sở dĩ tân vương có được ơn này là vì Người có được tràn đầy thần khí Thiên Chúa (Is 11, 1-2). Và theo cách hiểu của TOB và BJ thì “cố vấn kỳ diệu” là một thuộc tính của Thiên Chúa (x. Is 28,29 xin được dịch thoát ý theo TOB: “điều này cũng đến từ Yavê toàn năng, Đấng tỏ mình ra là 1 cố vấn kỳ diệu”). Ngoài ra các ý tưởng “khôn ngoan, mưu lược, biện phân ý Chúa” còn gợi lại ân huệ đặc biệt mà Chúa ban cho Salomon để cai trị dân Chúa đúng theo đường Chúa (1V3, 9.12; 2Sb 1, 10-12).

“Thần linh dũng mãnh”: gợi lên hình ảnh Đavit chiến thắng quân thù nhờ vào lòng tin tưởng, phó thác cho Thiên Chúa (1Sm 17, 34-37. 45-47…). Nhờ biện phân được ý Chúa trong biến cố, tân vương dám đương đầu với mọi thử thách và có khả năng thực thi ý Chúa. “Thần linh dung mãnh” cũng là 1 tước hiệu của Yavê (Í 10, 20-21; Đnl 10, 17; Tv 24,8…)

“Cha muôn thuở”: Thiên Chúa là Cha của dân, nhất là khi Người tỏ lộ quyền năng can thiệp để cứu dân (x. Xh 4, 22-23). Kẻ được Chúa trao quyền bính hay hướng dẫn dân cũng được gọi là cha của dân (x. Is 22,21) và dân cũng coi vua như cha (x. 1Sm 24,12). Vậy “cha muôn thuở hàm ý cầu chúc triều đại của tân vương được lâu bền, luôn có hậu duệ trung tín được Chúa yêu thương, ngự trị trên ngai (x. 2Sm 7, 12-16).

Câu 6 xác định vị tân vương thiên sai ấy thuộc hoàng tộc Đavit và nhưng điều tốt đẹp được hàm ẩn trong các tước hiệu ở câu 5 thì ở câu 6 đuọc diễn tả ra rõ rang: tân vương sẽ mở rộng quyền bính, tạo dựng triều đại thái bình đặt nền trên chính trực công minh; Triều đại ấy là vô tận, vĩnh cửu.

  1. Sứ điệp

Bài đọc 1 loan báo niềm vui của dân Chúa, thân phận của họ sẽ được cải thiện tốt lên. Nguyên nhân sự đổi đời tuyệt đẹp ấy của niềm vui ấy là “tình yêu nồng nàn của Yavê các đạo binh”, Người sẽ can thiệp dẹp bỏ những yếu tố cản trở phúc lộc, gây hoạ cho dân và nhất là ban cho dân 1 Hài Nhi, 1 tân vương phát xuất từ dòng tộc Đavit; Nơi Người qui tụ mọi điều tuyệt hảo của các tổ phụ: sự khôn ngoan, mưu lược của Salomon; Lòng đạo đức dung mãnh của Đavit… Nhờ đó Người sẽ hoàn tất cách tốt đẹp nhất mọi điều mà Thiên Chúa đã hứa cho dân Chúa. Triều đại Người sẽ trường tồn vì Người luôn đi theo đường lối của Thiên Chúa, đặt quyền bính trên nền tảng là sự chính trực công minh.

Khi chọn trích đoạn này đọcc trong đêm Giáng Sinh, Giáo Hội mời gọi chúng ta chiêm ngắm Hài Nhi Giêsu đang trong thân phận trẻ thơ yếu hèn chính là vị Tân Vương tuyệt vời mà Isaia đã tiên báo. Hãy thuần phục giáo huấn, khuyên răn của Người và hãy thi hành ý Người bằng chính thần lực Người thông ban.

TIN MỪNG: Lc 2, 1-14

  1. Văn mạch

Hai chương đầu của Tin Mừng Luca như là 1 bài tựa Kitô học giơi thiệu huyền nhiệm Giêsu trong chiều kích trọn vẹn nhất của mặc khải, khác hẳn với lối trình bày tiệm tiến trong các chương sau. Chúng ta sẽ không bao giờ gặp được ở chỗ nào khác trong tác phẩm của Luca, cách nói minh nhiên về Đức Giêsu như: “Đấng Cứu Thế”, “Ánh Sáng muôn dân”, “Kitô CHÚA”, “Chúa con” trong ý nghĩa trọn vẹn, mạnh mẽ nhất của các từ ấy.

Để xây dựng trình thuật này và để làm nổi bật vai trò, dung mạo của Đức Giêsu, Luca đã sử dụng cách viết song đối: ông trình bày song song nhau trong những nét chính, thời thơ ấu của Gioan và của Đức Giêsu nhằm làm nổi bật Đức Giêsu và sự liên tục của 2 nhân vật trong chương trình của Thiên Chúa và tính siêu việt vượt hẳn của Đức Giêsu. Cấu trúc Luca 1-2:

Gioan

Đức Giêsu

Truyền tin cho Dacaria  1,5-25

Truyền tin cho Đức Maria    1, 26-38

Đi viếng: Bài ca của Elisabet    1, 24-45

Bài ca Magnificat                 1, 46-56

Gioan chào đời      1, 57-58

Đức Giêsu Giáng Sinh       2, 1-20

Chịu cắt bì, đặt tên   1, 59-66

Chịu cát bì đặt tên                2, 21

Bêndictus               1, 67-79

Nunc Dimittis                      2, 22-38

  ẩn dật                   1,80

ẩn dật                                 2, 39-40

Biến cố năm 12 tuổi              2, 41-51

Chóp đỉnh của Tin Mừng thơ ấu nơi Luca là lời Đức Giêsu mặc khải năm 12 tuổi: Người là Con của Thiên Chúa (2, 49). Đó là lời nói đầu tiên của Đức Giêsu trong Tin Mừng Luca. Và lời cuối cùng của Người cũng là mặc khải Người là Chúa Con (23, 46).

Tin Mừng hôm nay trích phần đầu của trình thuật “Đức Giêsu Giáng Sinh” (2, 1-14).

  1. Phân tích

  2. Bối cảnh lịch sử và ý nghĩa của nó (Lc 2, 1-5)

  • Thời điểm Giáng Sinh

– Hoàng đế Augustô ra lệnh kiểm tra dân số toàn thiên hạ (1)

– Tại Syri đó là lúc Quiriniô làm tổng trấn (2)

  • Nội dung chiếu chỉ: ai nấy về nguyên quán khai tên tuổi (3)

  • Thiên Chúa điều khiển hoàng đế để thực thi ý Chúa:

– Giuse rời Nadaret về Bêlem, thành Đavit để khai báo vì ông thuộc hoàng tộc (4)

– Ông đi cùng Maria, người đã đính hôn với ông, lúc đó người đang mang thai (5)

Thời điểm Giáng Sinh được đánh dấu bằng “cuộc kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ”. Các nhà khảo cổ đã khám phá ra trong đống đổ nát của một đền thờ cổ ở Ankara thuộc Anatolie, Tiểu Á, một bia cẩm thạch trên đó có ghi 3 cuộc kiểm tra dân số Augustô tổ chức vào các năm 28 tcn, 8 tcn và 14 scn (Compremde la pảole C p. 120)

Rồi một sử liệu tìm thấy ở Qumrân cho biết vào năm 27 tcn có cuộc cải cách toàn đế quốc về hành chính, việc kiểm tra ở Palestin cũng bắt đầu năm đó và kéo dài cho đến 40 năm sau (Trương Thanh Toàn – Đỗ Minh Nghị “cuộc đời Chúa Giêsu thời thơ ấu” Ronéo UBĐKCG TP. HCM 1991 trang 154)

Còn theo Charles Perrot, ở Syri cứ 12 năm có kiểm tra 1 lần (CE 18 p. 51 cột 1) và theo sử gia Do Thái Josephus Flavius thì thời Quiriniô làm tổng trấn Syri vào năm 6-7 scn thì có một lần kiểm tra dân số. Và C. Perrot cho rằng lần này là lần được nói đến trong Cv 5,37; và để phân biệt thì lần kiểm tra 12 năm trước, tức năm 6 tcn được Luca viết là lần đầu tiên, lần thứ nhất. So với Mt 2, 16 người ta ước đoán Đức Giêsu sinh ra khoảng năm 7-6 tcn.

Đường lối Thiên Chúa: về việc phải về nguyên quán để khai báo: theo thủ tục hành chính, nếu cuộc điều tra làm tại Ý thì chỉ cần chủ hộ đến trình báo với chính quyền địa phương. Riêng với dân Do Thái, việc đăng ký phải theo phổ hệ, theo vùng đất cha ông (Dt 1, 17-47). Vậy lệnh của hoàng đế Rôma đã thích nghi với tập tục Do Thái. Tuy nhiên tục lệ không buộc phải kê khai đăng kí phụ nữ (Dt 1, 2-3). Vậy Đức Maria được miễn, nhất là đường sá xa xôi mà Maria lại sắp sinh nở.

Vậy chủ ý của Luca không là cuộc điều tra, nhưng là việc Đức Giêsu phải sinh ra ở Bêlem để ứng nghiệm lời Kinh Thánh. Hoá ra uy quyền của Augustô tưởng chừng thống trị mọi sự lại trở thành công cụ để Thiên Chúa sử dụng thực thi ý Người, làm dấu chỉ cho những ai thiện tâm nhận ra thời Mêsia đã tới.

b.Cuộc Giáng Sinh âm thầm khiêm hạ (Lc 2, 6-7)

  • Sự cố: Khi đang ở Bêlem, Maria tới ngày mãn nguyệt khai hoa (6)

  • Hệ quả: bà sinh 1 người con

  • Đặc điểm của Hài Nhi được Luca miêu tả:

– con trai đầu lòng (7a)

– được bọc trong tã

– đặt nằm trong máng cỏ (7b)

– vì hai ông bà không tìm được chỗ trong quán trọ

Con trai đầu lòng: Cach nói mang tính pháp lý: mọi con trai đầu lòng đều thuộc về Thiên Chúa, nhắc lại cách Chúa làm để giải cứu Israel khỏi ách Ai Cập (xh 3, 2.12-15). Vậy Đức Giêsu là phương thức Thiên Chúa dung để cứu nhân loại chứ không hề nói là Người sẽ có các em: “Người đã sinh ra dưới quyền của lề luật… để chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” (Gl 4, 4-5). Về sau Phaolô và truyền thống Kitô giáo khám phá ra ý thần học của cách nói này: Đức Giêsu là TRƯỞNG TỬ của mọi loài thọ sinh (Rm 8, 29; Cl 1, 15 – 18; Dt 1, 6; Kh 1, 5). Và nếu ta so sánh tước hiệu “con đầu lòng” với 1 chi tiết trong Ga 19, 26.27 thì quả thật Đức Maria là Mẹ của đàn con đông đúc mà TRƯỞNG TỬ là Đức Giêsu.

 Như vậy, khi đảm nhận trọn vẹn kiếp người, Đức Giêsu thông ban cho chúng ta thiên tính, nâng chúng ta lên hàng nghĩa tử của Cha mà Người là CON ĐẦU LÒNG.

 Được bọc trong tã: chuyện bình thường thôi mà! Nhưng một số nhà chú giải đã nối chi tiết này với Kn 7, 4 có liên quan đến việc sinh hạ Salômon. Đức Giêsu là Salômon mới người nối ngôi Đavit, hậu duệ đích thực. Chính Người mới là vua Hòa bình (Salômon có gốc là Sâlôm = sự bình an, phú túc) chứ không phải Augustô được đế quốc xưng là Pax Romana: bình an của Rôma.

 Hình ảnh “tã bọc” trong Kn 7, 4 cũng muốn nói lên khía cạnh yếu đuối, nghèo hèn của vị Thiên Chúa tự nguyện làm người: Đức Giêsu, Đấng được Luca mô tả là 1 vị Thiên Chúa tối cao, quả thật cũng là 1 con người như chúng ta, Người phải được bảo vệ với tã bọc của nhân loại.

Máng cỏ: là cái máng đựng cỏ, thức ăn của ngựa lừa … Phối hợp cùng với chi tiết “Bêlem”= “nhà của bánh”, một số nhà chú giải cho rằng Luca muốn giới thiệu Đức Giêsu là lương thực của trần gian. Nhiều chi tiết khác trong Luca liên kết Đức Giêsu với lương thực (4, 4; 9, 16-17; 24, 30). Như vậy khi tìm hiểu biến cố giáng sinh trong toàn bộ mối bận tâm của Luca về chủ đề lương thực, chúng ta có thể nhìn ta nơi “Máng cỏ” một dấu chỉ báo trước mầu nhiệm Thánh Thể. Khi đặt Đức Giêsu vào “Máng cỏ”. Luca đã kín đáo hé mở ra ngay từ đầu Tin Mừng thứ 3 rằng Đức Giêsu chính là nguồn lương thực từ trời nay được trao ban dưỡng nuôi trần thế.

Không tìm được chỗ trong “nhà trọ”: có lẽ không nên hiểu câu này theo lối tình cảm: thánh gia nghèo quá nên bị đuổi phải ra ở giữa đồng hoang với bò lừa … Đọc Lc 2, 8 và 2, 15b ta thấy rõ là Thánh Gia không ở đồng hoang nhưng là ở trong thành nên các mục đồng mới bỏ đồng hoang (c. 8) tìm vào thành (c. 15b) để thờ lạy Hài Nhi. Chắc chắn sứ điệp mà Luca muốn gởi tới không nằm trong các chi tiết tiện nghi, tình cảm mà là sứ điệp thần học được ẩn chứa trong từ “nhà trọ”= kataluma. Đây là chi tiết được các nhà chú giải lưu tâm vì nó củng cố cho cách hiểu biểu tượng của “máng cỏ”: Đức Giêsu là lương thực cho trần thế. Thật vậy, từ kataluma còn được gặp lại 2 lần nữa trong trình thuật có liên quan tới lương thực.

– Trong phép lạ nhân bánh, Luca là người duy nhất trong 4 Tin Mừng dùng động từ “tìm chỗ trọ”=kataluo subj.aorist (9,12)

– Trong bữa tiệc ly: biến cố diễn ra trong kataluma.

Như vậy 3 trình thuật có liên quan tới lương thực đã được Luca nối kết lại với nhau ngang qua từ kataluma. Ý nghĩa như sau:

Trong “nhân bánh”, việc “tìm chỗ trọ” một cách đột ngột và tức thời cho cả 1 đám đông hơn 5.000 người là 1 điều bất khả thi vào thời Đức Giêsu. Cái bế tắc này được nêu ra là để khai mào dẫn vào trọng tâm: chính Đức Giêsu sẽ cho họ ăn. So sánh tình trạng không thể “tìm được chỗ trọ” cho đám đông để rồi chính Đức Giêsu phải nuôi họ, với việc vì không tìm được chỗ trong kataluma nên Hài Nhi phải nằm trong “máng cỏ”, chúng ta thấy bật ra ngay chủ ý này: Hài Nhi nằm trong “máng cỏ” chính là lương thực nuôi dân mới của Người.

Trong trình thuật tiệc ly: “căn phòng (kataluma) mà trong đó tôi ăn lễ Vượt qua với các môn đệ tôi ở đâu?”(Lc 22, 11). Nơi trình thuật giáng sinh, Đức Giêsu đến với kataluma của nhân loại và không có chỗ trọ cho Người nhưng rồi Người đã trở thành “của ăn” nằm trong “máng cỏ”; Còn trong trình thuật “Tiệc Ly”, nơi kataluma của Người, Người chẳng những tiếp đón mà còn thết đãi nhân loại (môn đệ là đại diện lúc đó) một bữa ăn đặc biệt: Mình Máu Người.

Tóm lại, trong trình thuật giáng sinh “để tạo nên và nhấn mạnh tầm quan trọng của giá trị biểu tượng, Luca đã nhắc đến từ “máng cỏ”đến 3 lần (2, 7.12.16) và để cập đến kataluma. Mặc dù được sinh ra trong 1 điều kiện quá thấp hèn như thế, Đức Giêsu vẫn là người chủ đón tiếp nhân loại trong cơn đói khổ. Rồi khi đã trưởng thành và sắp hạ mình xuống như 1 tôi tớ, Đức Giêsu lại thết đãi các môn đệ trong kataluma 1 bữa tiệc mà các môn đệ sẽ thết đại lại cả nhân loại để tưởng nhớ đến Người” ( R. J. Karris OFM “TM Chúa Giêsu Kitô theo thánh Luca” trang 57 dịch từ bộ The New Jerome biblical commentary 1990).

c.Nhưng Hài Nhi đó lại là Đấng Cứu độ Kitô Chúa: Tin Mừng cho mục đồng (Lc 2, 8-14). Đây là cuộc thần hiện cho các mục đồng đang thức canh giữ chiên sống ngoài đồng (8)

* Thần sứ xuất hiện: sứ thần Chúa đến bên họ, vinh quang Thiên Chúa chiếu tỏa (9a)

* Phản ứng của đối tượng: họ kinh khiếp hãi hùng (9b)

* Trấn an: anh em đừng sợ (10a)

* Công bố sứ điệp: báo cho họ 1 tin mừng trọng đại cũng là tin mừng cho toàn dân (10b)

Nội dung Tin Mừng: hôm nay 1 Đấng Cứu Độ đã sinh ra trong thành vua Đavit. Người là Đấng Kitô Chúa (11)

* Dấu chỉ giúp nhận ra Người: một trẻ thơ bọc tã nằm trong máng cỏ (12)

 Dấu chỉ thúc lên đường: đoàn thiên binh hợp xướng ca tụng Thiên Chúa (13)

“Vinh danh … Chúa thương” (14)

* Sự vâng phục của đối tượng (15)

(2 câu này phụng vụ hôm nay không sử dụng)

Các câu 8 – 16 được viết theo thể văn thần hiện. Sứ điệp trung tâm chính là nội dung của lời sứ thần loan báo.

Hôm nay: nhấn mạnh đến tính hiện tại của sứ điệp, Tin Mừng luôn là 1 thực tại hiện tại. Ơn cứu độ là điều đang diễn ra hôm nay ở nơi này chứ không là 1 thực tại tương lai. Và chính quyết định, chọn lựa HÔM NAY của mỗi người là điều quan trọng. Luca thường nhấn mạnh đến tính cách hiện tại của ơn cứu độ (2,11; 3,22; 5,26; 13,32; 19,9; 23,43): ơn cứu độ là cho ngày hôm nay (CGKPV “Tân Ước” 27b) và cũng tùy thuộc vào thái độ đáp trả HÔM NAY của từng người.

Đấng cứu độ: trước tiên tước hiệu này gợi lại tên Giêsu = YaVê cứu; Nó cũng gợi lên ơn cứu độ mà dân Chúa bao đời mong ước. Vậy Hài Nhi trong máng cỏ chính là lời đáp của Thiên Chúa trước bao khát vọng của con người.

Đây là 1 danh xưng Kitô giáo được dùng trong các giáo đoàn diaspora và hi hóa nhằm đối đáp lại với cấc tôn giáo lương dân từng áp dụng danh xưng này cho các “thần cứu thế”, và đặc biệt cho hoàng đế La mã được họ xem như là thần: rõ ràng là giữa Augustô và Hài Nhi trong máng cỏ thì Luca công bố rằng Hài Nhi này mới là vị Cứu Tinh, là Đấng Cứu Độ đích thực.

“Đấng Kitô – CHÚA”: gốc do thái là 2 từ riêng rẽ Mêsia và Chúa. Việc dám ghép 2 từ này lại và gán cho Đức Giêsu là 1 khám phá táo bạo của Kitô giáo; Vì trong Cựu Ước, Mêsia cũng chỉ được xem là 1 phàm nhân, không ai dám đồng hóa Mêsia với Chúa. Đây là lối dùng độc đáo của Luca phản ánh lại niềm tin sâu thẳm của các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi vào con người Đức Giêsu sau biến cố phục sinh; nhờ Chúa Thánh Thần, họ mạnh mẽ tuyên xưng Đức Giêsu thập giá chính là Đấng Mêsia và hơn thế nữa Người chính là Thiên Chúa với quyền chủ tể và vương đế do Chúa trao ban (x.Cv 2, 36). Vậy mầu nhiệm giáng sinh đã được Luca soạn thảo dưới ánh sáng phục sinh: Trong 2 chương đầu, toàn bộ mầu nhiệm thần linh nơi Đức Giêsu đã được mặc khải trọn vẹn.

Sứ điệp trên được Luca gọi là Tin Mừng trọng đại cho toàn dân.

Muôn vàn thiên sứ, sứ thần ca khen Thiên Chúa: quán trọ, máng cỏ phút chốc trở nên cung điện thiên đình, toàn thể triều thần tụ họp diện kiến thiên nhan. So với Is6, 3; cả đạo thiên binh thiên thần xuất hiện ca ngợi Thiên Chúa 3 lần thánh. Đấng Chủ Tể vũ hoàn, thì rõ ràng Luca khẳng định rằng vị Chủ Tể vũ trụ không phải là Augustô, ông ta chỉ là dụng cụ để vị vua đích thực của vũ hoàn sử dụng để thực hiện dự tính của Người. Người là Hài Nhi đang nằm trong máng cỏ. Từ này, nơi nào có Đức Giêsu, nơi đó là cung điện thiên quốc, là thiên đàng. Ai đón nhận Hài Nhi này sẽ có bình an đích thực.

  1. Sứ điệp

Bằng nhiều hình thức văn chương lối viết song đối so sánh Đức Giêsu Hài Nhi nghèo hèn với vị hoàng đế lẫy lừng đương thời: thể văn thần hiện (cho các mục đồng): dùng những tước hiệu thần linh với ý nghĩa trọn vẹn nhất; những điển tích rút ra cách tài tình từ Kinh Thánh như “quấn tã” … Luca đã công bố Tin Mừng trọng đại cho toàn thể nhân loại: Hài Nhi nằm trong máng cỏ chính là Chủ tể đích thực của vũ hoàn. Vị Cứu Tinh duy nhất của nhân loại, là Đấng đem lại bình an thật và vĩnh cửu, là Đấng hoàn tất mọi ước vọng muôn thuở của nhân loại, nơi Người mọi lời đoan hứa từ xưa của Thiên Chúa được thực hiện, và hơn thế nữa. Người chính là Thiên Chúa. Với Người, tình yêu Thiên Chúa thống trị. Thân phận con người đổi thay tùy thuộc vào tương quan mỗi người đối với tình yêu ấy. Vinh quang Thiên Chúa trên trời cao nay trở nên bình an cho nhân loại nhờ Tình Yêu Thiên Chúa.

Frère Pierre Đình Long