Lê Đình Bảng-Trường ca về Thơ

 

Bùi Công Thuấn

Hai trường ca Di sản và  Những nốt trầm Jobbica  là những suy tư của Lê Đình Bảng về thơ trong tương quan với đức tin và cuộc đời.

Hai trường ca này thực ra chỉ là hai phiên bản ngẫu hứng khác nhau của một bài thơ dài. Đó là sự diễn giải những suy nghĩ của Lê Đình Bảng về nhiều vấn đề của thơ.

Thử đối chiếu:

Lũ chúng ta, như đàn bò chăn thả
Khi ngược dòng, phải gối sóng mà bơi
                (Những nốt trấm Jobbica. Câu 133.)

Lũ chúng ta, như đàn bò đói cỏ
Thèm những rạ rơm, bóng mát, đường quê
Ngang qua thửa vườn ra rả tiếng ve
Mùi lúa sót, khói đốt đồng, ngai ngái
                 (Di Sản. Câu 908-911)

Quan điểm chính của Lê Đình Bảng đã thể hiện trong bài thơ Tôi làm thơ nghĩa là tôi cầu nguyện:

Tôi làm thơ nghĩa là tôi cầu nguyện
Hồn reo vui trong từng chữ từng lởi
Trong đất mầu đương vỡ vạc sinh sôi
Trong cây lá vươn sức dài vai rộng
                                       (Tôi làm thơ nghĩa là tôi cầu nguyện) [[1]].

Nhưng hành trình thơ của Lê Đình Bảng thế nào? Nguồn mạch thơ Lê Đình Bảng là từ đâu? Thơ và đời sống đức tin? Đặc điểm “thi pháp” của thơ Lê Đình Bảng là gì? Ông nghĩ gì về thơ Việt đương đại? Thơ Lê Đình Bảng có vị trí nào trong thơ Công giáo Việt Nam và thơ Việt hôm nay? Vâng, có thể tìm thấy câu trả lời trong hai trường ca này.

  1. Nghĩ về đời sống thơ hôm nay

            Thật ít khi Lê Đình Bảng nói thật lòng mình về những vấn đề xã hội thời đại ông đang sống. Và đây là lần hiếm hoi ông thể hiện một thái độ diễn ngôn:

Tôi sợ lắm, kẻ thập thò, ẩn mặt
Như vẫn sợ những tuần chay nước mắt

Của lũ con buôn, đón gió, chạy cờ
Chúng mon men vào chiếu rượu, bình thơ

Để góp chuyện, để ăn mày, kiếm chác

Chúng làm như rất bình thường, chuyện vặt
Là tiếng vo ve, ra rả, nhập đồng
Có chăng, chỉ là kiến thức ăn đong
Tạt nước theo mưa, mồm loa, mép giải

Đâu còn lương tri? Đâu, lòng khí khái
Yêu nước, thương dân, phải có môn bài
Chẳng rạch ròi, chẳng phân biệt, đúng sai
Cái vòng kim cô, sợi dây thòng lọng

Của bọn theo thời, cô đồng, cậu bóng
Thơ có riêng một trường phái thơ điên
Không thể nào nghe bốc phét, huyên thuyên
Của những kẻ tự đăng đàn ngự sử

                    (Những nốt trầm Jobbica. Câu 480- 496)

Tôi sợ lắm, chuyện đồng xanh bắt trẻ
Chữ nghĩa chông chênh…
xiêu vẹo, ngổn ngang
Của cánh con nhang, am miếu, chùa đàn
Chúng vay mượn của người, rồi ảo tưởng

 Tôi sợ lắm, thơ bạc tình, phản phúc
Là con ngựa thồ, ngã quỵ, nai lưng

Những nốt trầm Jobbica 305-330)

Viết thành văn xuôi, thì ý tứ đoạn thơ (trích) là: Tôi sợ lắm! sợ cái sự nhập nhằng “yêu nước thương dân” như “Cái vòng kim cô, sợ dây thòng lọng”; sợ chữ nghĩa chông chênh xiêu vẹo, sợ thơ phản bội, sợ bọn con buôn văn nghệ, bốc phét  về “một trường phái thơ điên”.

Những điều này, như là cùng một nhịp tim đập với đánh giá của Nguyễn Huy Thiệp về thơ Việt hôm nay. Sự khác biệt là ở chỗ Nguyễn Huy Thiệp nói “trắng phớ” cái thực tế bằng văn xuôi, còn Lê Đình Bảng nói bằng ngôn ngữ thơ ẩn dụ:

            “Nhìn vào danh sách hơn 1000 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam người ta đều thấy đa số đều chỉ là những người già nua không có khả năng, sáng tạo và hầu hết đều… “vô học”, tự phát mà thành danh. Trong số này có tới hơn 80% là nhà thơ tức là những người chỉ dựa vào “cảm hứng” để tuỳ tiện viết ra những lời lẽ du dương phù phiếm vô nghĩa, nhìn chung là lăng nhăng, trừ có dăm ba thi sĩ tài năng thực sự (số này đếm trên đầu ngón tay) là còn ghi được dấu ấn ở trong trí nhớ người đời còn toàn bộ có thể nói là vứt đi cả. Giai thoại có một nhà thơ nói về tình cảnh thơ ở trong bài thơ sau đây (tôi đã đưa chuyện này vào trong tiểu thuyết của tôi vì nó quá hay) khá tiêu biểu cho thực tế đó: “Vợ tôi nửa tỉnh nửa mơ/ Hôm qua nó bảo: Dí thơ vào l…/ Vợ tôi nửa dại nửa khôn/ Hôm nay lại bảo: Dí l… vào thơ!”, tôi cũng không phủ nhận cảm tình của nhân dân đối với thơ nhưng quả thực trên thực tế cái danh nhà thơ là một thứ nhìn chung chỉ là nhăng nhít, hữu danh vô thực, chẳng ai muốn dây vào nó: nhà thơ đồng nghĩa với sự chập cheng, hâm hấp, quá khích, vớ vẩn, thậm chí còn lưu manh nữa…”[[2]].

Nội dung văn bản đã rất tường minh, tôi xin không diễn giải gì thêm. Để rõ về thực trạng này, có thể kiểm chứng hai “tác phẩm” đoạt giải thơ danh giá: Bài Mẹ tôi chửi kẻ trộm của Tống Văn Hân (Giải Thơ báo Văn Nghệ cuộc thi thơ 2019 – 2020) và “Nhặt xác em chất chồng bảo tàng”, tập thơ của tác giả trẻ Lâu Văn Mua (Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2025). Ban Chấp Hành Hội Nhà văn Việt Nam đã vội thu hồi giải ngay khi vừa trao giải, vì tác giả đạo thơ người khác[[3]].

  1. Thơ là máu thịt thi nhân

Thơ đâu chỉ là, gieo chữ, nhả vần
Đã thành xương, và da thịt, ruột gan
Đã thấm đẫm, đã hoà tan vào máu
                   (Di sản. Câu 178-180)

Thơ là khí thiêng, linh hồn, thể phách
Dẫu có tang thương, ngẫu lục, ba đào
Thơ bi hùng, từ bút mực, gươm đao
Sau cuộc phần thư, hoả hào, lộng lẫy
                    (Những nốt trầm Jobbica. Câu 29-32)

Vâng, chỉ những ai đã nếm trải bể dâu mới cảm nhận được những điều Lê Đình Bảng viết về thơ…

Nguyễn Du (1766-1820) xót thương nàng Tiểu Thanh cũng là khóc thương mình: “Cổ kim hận sự thiên nan vấn/ Phong vận kỳ oan ngã tự cư”(Độc Tiểu Thanh Ký).  Cao Bá Quát (1808-1855) từng được xưng tụng là “Thần Siêu, thánh Quát” về thơ văn. Ông từng viết câu thơ: “Ngoảnh mặt lại cửu hoàn coi cũng nhỏ” (Uống rựơu tiêu sầu, bài 1). Và, “suốt đời chỉ biết cúi đầu trước hoa mai”. Nhưng số phận ông thật bi thảm. Ông bị vua Tự Đức tru di tam tộc. Thời hiện đại, Nhà thơ Phùng Quán, người viết bài thơ Lời mẹ dặn, đã phải đi lao động cải tạo nhiều đợt [[4]]. Phùng Quán viết về thơ trong những ngày gian nan: “Có những phút ngã lòng./ Tôi vịn câu thơ và đứng dậy…”[[5]]. Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền trong những năm tháng cải tạo sau 1975, đã làm “thơ trong đầu”: “gánh cỏ trên vai thơ trong đầu/ trời chớm thu hạ mường tượng hồng au (Thơ làm khi đi nuôi cá)[[6]]. Nhà thơ Hoàng Cầm, khi ba bài thơ “Cây tam cúc”, “Lá diêu bông”, “Quả vườn ổi” (tập thơ Về Kinh Bắc của ông) bị coi là “phản động”, đã có một chuyên án được mở ra năm 1982 [[7]]…Hoàng Cầm tâm sự [[8]]: “Phải nói thật một điều, thường người ta khó tin, là hồi đó tôi không mang trong lòng – dẫu chỉ một ly – nỗi oán hận, nỗi buồn phiền, hoặc trách móc hờn giận gì ai. Đôi lúc, chỉ nghĩ về chính số phận mình, có chút cay đắng, có xót xa. Nhưng vì “đã mang lấy nghiệp vào thân” như Nguyễn Du nói, cái nghiệp thơ đầy đau khổ, oan trái, nhưng cũng nhiều hào quang toả ra từ tâm linh và từ những câu chữ kỳ diệu đã đem đến cho mình không ít giờ phút say sưa, ngay trong cuộc sống bình nhật cũng không ít hạnh ngộ đẹp, tôi được gặp nhiều người nam, người nữ rất trong sáng, yêu thương mình hết lòng. Dân tộc là thế đấy, thưa các bạn”.

Lê Đình Bảng giác ngộ điều này:

Thơ vào máu, chảy thành duyên, thành nợ
Nghìn lời yêu, sao sánh với đợi chờ
Cả tấm linh hồn đã chảy vào thơ
Thơ mạnh hơn mìn bom và trái phá

 Tiếng bấc, tiếng chì. Có nhân, có quả
Tinh tuyết của thơ là mạch lưu truyền
Chúa ban cho, qua dòng giống, tổ tiên
Có khí thiêng của sương trời, hơi đất

Là di sản đã mở đường phúc thật
Ríu rít oanh ca, rợp bóng phong điều

Thơ là khải huyền, ngất trí, tiêu diêu

Cây cải xum xuê, chim trời trú ngụ

(Những nốt trầm Jobbica. Câu 425…436)

  1. Hành trình thơ Lê Đình Bảng

    Đây là khởi đầu

Xin mạn phép, được mở lời ấp úng
Thưa, khởi đầu, tôi lãng mạn làm thơ
Cũng mơ mòng, cũng nhung nhớ vu vơ
Trong máu non sôi, từng hơi thở gấp

Và để mặc cho gió trời va đập
Bám gấu áo Người, theo những đám đông
Làm đứa trẻ con sai vặt, tiểu đồng
Qua những làng quê, xóm chài, phường phố

                        (Di sản. Câu 365 …372)

Có lẽ Lê Đình Bảng cũng giống nhiều người làm thơ khác, trước tiên là làm thơ tình (của chính mình). Thuở manh nha ấy chưa có ý thức sáng tạo nên Lê Đình Bảng phải “Bám gấu áo Người, theo những đám đông”. Nói bằng ngôn ngữ hôm nay là, Lê Đình Bảng cũng làm “thơ phong trào”. Và trong các “chiếu thơ” của các bậc trưởng thượng trong ngôi đền thơ linh thiêng, Lê Đình Bảng chỉ là “đứa trẻ con sai vặt, tiểu đồng” ở làng quê, xóm chài, phường phố (ngày nay gọi là “thi sĩ miệt vườn”)

Đây là trải nghiệm của đời thơ: Khổ ải, trầm luân, vô vọng khôn nguôi trong không gian mênh mông và trong thời gian vô cùng.

Lũ chúng ta, như đàn bò chăn thả (câu 133)
Khi ngược dòng, phải gối sóng mà bơi
Bám lấy nhau, kẻo vỡ vụn, xa rời
Sinh là khổ, nhưng nào ai muốn chết

Đường lên cao, đỉnh Sion xa ngái (193)
Tôi ra đi, mà chẳng biết đi đâu
Như Abraham trăm nỗi cơ cầu

Cả những lúc, tôi mệt nhoài, vô thức (213)
Bởi tiếng chim kêu lảnh lót bờ rào
Thiên đàng, địa ngục ở tít trên cao
Hay mãi đâu đâu, khói sương, ải vắng

                  (Những nốt trầm Jobbica. Câu 133…216)

Ta hỏi ta, đâu địa ngục, thiên đàng
Và biển hỡi, bao ngọn triều, con sóng

(Di sản. câu 43-44)

Có nhiều lúc, như chìm vào cô tịch (câu 189)
Là hư không trong một vũng cô liêu
Kẻ làm thơ thường vui ít, buồn nhiều
Của đêm trở mình, của ngày mở mắt
                         (Di sản. Câu 189…)

Muốn sống sót, phải lặn ngòi, ngoi nước
Xác rác xơ rơ, tơi tả, nát nhàu
Từ dưới, nhoài lên, người nối đuôi nhau
Sên, ốc
, muỗi mòng, đất bùn, cám bã

                  (Những nốt trầm Jobbica. Câu 289-292)

Mênh mang mấy tầng, mênh mang thiên địa
Ngút ngát hoang vu, bờ bụi muỗi mòng
Ta lạc loài như đất đá, rêu rong
Chịu sương giãi để cộng sinh, thừa tiếp

Khi vào chốn của tận cùng chật hẹp
Đứng trước gian nan, mới rõ đá vàng
Lẳng lặng ngồi, mơ về cõi thênh thang
Rừng trước mặt đang mùa lênh láng nước

                              (Di sản. Câu 253…260)

Tôi nghĩ, Lê Đình Bảng đã diễn tả được tột cùng thân phận nhà thơ: “Là hư không trong  một vũng cô liêu/ Kẻ làm thơ thường vui ít, buồn nhiều”.

Thực ra bản chất của sự sáng tạo là cô đơn. Và nỗi trăn trở của nhà thơ là: “Tôi ra

đi mà chẳng biết đi đâu”, tức là tìm đâu ra “con đường sáng tạo” riêng. Không thể đi lại lối mòn truyền thống. Không thể giẵm lên bước chân của những nhà thơ đi trước. Trước mặt người làm thơ là những “đỉnh thi sơn” cao vời vợi, làm sao vượt qua? Làm thơ tình chăng? Đã có Xuân Diệu, Nguyễn Bính. Làm thơ thế sự chăng? Chế Lan Viên sừng sững trước mặt với Điêu tàn. Thơ truyền thống thì Nguyễn Du, Cao Bá Quát, các truyện thơ Nôm và kho tàng ca dao như biển mênh mông, như chân trời vô tận. “Ta hỏi ta, đâu địa ngục, thiên đàng/ Và biển hỡi, bao ngọn triều, con sóng”.

 Có một nghịch lý là, bản chất của sáng tạo là cô đơn, là độc đáo, nhưng để sáng tạo được, nhà thơ phải đi cho đến tận Thiên đường Địa ngục, phải trầm mình cùng với chúng sinh trong bể khổ. “Lũ chúng ta, như đàn bò chăn thả/ Khi ngược dòng, phải gối sóng mà bơi/ Bám lấy nhau, kẻo vỡ vụn, xa rời”. “Thơ mọc rễ sâu, tận nguồn, tận cội/ Trầm mình trong cơn khát của sinh linh” (Di sản. câu 69-70), làm thân phận “Sên, ốc, muỗi mòng, đất bùn, cám bã”, “lạc loài như đất đá, rêu rong”

Lại có một trạng thái tinh thần khác:

Có những lúc, chán không thèm đọc chữ
Chỉ ngồi, nằm và đi xuống, đi lên
Tẻ nhạt, hình như, đã thành thói quen
Mình tồn tại, đâu phải mình đang sống

                         (Di sản. Câu 161-162)

Có lúc, tưởng chừng, buông xuôi, tuyệt vọng
Chúa để tôi, nơi gác khánh, đền thờ

                          (Những nốt trầm Jobbica. Câu 61-62)

Có những lúc, tưởng chừng, không muốn sống
Ôi, ước gì được gặp Chúa bây giờ
Đoái nhìn con, đừng ngoảnh mặt làm ngơ
Để nước mắt lau khô đi mọi thứ

                  (Những nốt trầm Jobbica. Câu 727-730)

 Ấy là chưa kể hoàn cảnh xã hội ảnh hưởng rất lớn đến ý thức sáng tạo của người làm thơ. Chẳng hạn, Nguyễn Du (1766-1820) không hề viết câu thơ nào về thực tại Việt Nam thời thời Lê mạt-Nguyễn sơ: một thời đại đầy biến động bể dâu mà ông bị cuốn vào, tính mệnh của mình chỉ như con kiến: “Kẻo khi sấm sét bất kỳ/ Con ong cái kiến kêu gì được oan” (Truyện Kiều, câu 1757-1758).

Và đây là thái độ bi tráng nhìn trời của Lê Đình Bảng, chẳng khác gì Nguyễn Du xưa:

Đã nhiều phen, nước mắt con dàn dụa
Biết tìm ai? Con tự hỏi chính mình
Tại sao, sao không vỡ vụn tan tinh
Cái bụi chấm trong muôn chiều bé nhỏ

Trời cao thẳm, chẳng là chi, lạy Chúa
Trước cõi vô biên, vô lượng, vô cùng
Không bến bờ và vô thuỷ, vô chung
Con, trong cái vỏ ngoài non tơ trứng mỏng

                    (Di sản. Câu 465…472)

Nguyễn Du tự khắc họa mình là người tráng sĩ bạc đầu nhìn trời bi thiết. Vì  “hùng tâm,  sinh kế”, cả hai đều mờ mịt [[9]]

Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên,
Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên
.

(Nguyễn Du. Tạp thi, kỳ 1)

  1. Đâu “là đường, là sự thật và là sự sống”?

            Sự thật ấy là: nhà thơ phải là chính mình, độc đáo, mới lạ, không được giống ai khác, không là ốc mượn hồn. Nói như Xuân Diệu: “Ta là Một, là Riêng, là Thứ nhất/ Không có chi bè bạn nổi cùng ta” (Hy Mã Lạp Sơn). Đi tới cuối đất, cùng trời, Lê Đình Bảng mới ngộ ra điều ấy, và ông la lên như thể Archimedes (287-212 TCN): “Eureka!” (“Tìm ra rồi”): “Ta là ta, không thể nào khác hơn!”:

Ta là ta, ta căng gió, giương buồm
Cùng xóm vạn chài, thuyền lưới, đó đơm
Dẫu lam lũ và nhọc nhằn, rách rưới

            (Di sản. Câu 94-96)

Cuối đất, cùng trời, trong ngoài, bè bạn
Để gầy nên một bếp lửa sinh tồn
Ta là ta, không thể nào khác hơn
Dẫu man muội hay mịt mù trầm tích

                   (Di sản. Câu 185-188)

Xuân Diệu bó mình trong Cái Tôi cô độc, trái lại, Lê Đình Bảng “căng gió, giương buồm” thơ ra khơi với bè bạn trong ngoài, với xóm vạn chài, với những đời lam lũ, nhọc nhằn, rách rưới. Và đấy là chỗ riêng của một nhà thơ Công giáo: Nhà thơ chọn mối phúc thứ nhất cho thơ của mình: “Phúc thay ai có tinh thần nghèo khó vì nước trời là của họ”(Mt 5,3). Thơ đi cùng với những đời lam lũ, nhọc nhằn, rách rưới. Đấy là con đường thơ của Lê Đình Bảng.

Nhưng đâu là sự sống của thơ ông?

Chúa đến với tôi, như một dòng nước
Tựa đám mưa giông bất chợt, dịu hiền

                      (Những nốt trầm Jobbica. Câu 635-636)

Chính sự sống đã phục sinh nỗi chết
Từ dòng huyết thanh của cạnh nương long
Là phù sa tươi, thấm đẫm ruộng đồng
Vụ chiêm, vụ mùa lên xanh mơn mởn

                 (Di sản. Câu 89-92)

Tôi tựa sát và gục đầu vào Chúa
Để thầm nghe tim máu thở rộn ràng
Từ cạnh nương long, thương xót chứa chan
Sao mê đắm như người đang ngất trí
(Di sản. Câu 209-212)

Vâng, “chính Ngài truyền cảm hứng cho tôi
Suốt canh thâu, tối mò, tôi chợt thấy

(Di sản. Câu 423-424).

Nhà thơ Lê Đình Bảng đã chứng nghiệm rất rõ rằng “Chính Ngài truyền cảm hứng cho  tôi” lúc tác giả còn lần mò trong bóng tối canh thâu. Máu từ cạnh nương long của Chúa đã trở thành “Phù sa tươi”, thành “vụ chiêm vụ mùa” xanh mởn trong thơ của ông, làm ông mê đắm như người đang ngất trí”.

Thơ đã trải qua rất nhiều số phận
Đã long đong, đã vất vả tìm đường
Để có cõi bờ, tổ quốc, quê hương
Quyết không để thơ nạ dòng, mất gốc

                                    (Những nốt trầm Jobbica. Câu 505-508)

Đường con đi, rất gập ghềnh, chật hẹp
Có Chúa đồng hành, mật đắng, hoa thơm
Có đoá trăng non, có ngọn gió nồm
Và em nữa, dưới vòm cây cảm lãm

(Những nốt trầm Jobbica. Câu 513-516)

Đã có con đường thơ, có tư tưởng-thẩm mỹ, có đối tượng hướng đến để nói về và có cảm hứng sáng tác, Lê Đình Bảng lấy chất liệu thơ từ đâu?

Có lúc, lâm cảnh hàn vi, cùng quẫn
Vịn vào thiên kinh, vạn quyển – Sấm Truyền
Lời vàng tiên tri, tổ phụ, Thi Thiên
Sáng Thế, Xuất Hành, Ai Ca, Thủ Lãnh

                        (Di sản. Câu 409-413)

Thơ còn hẹn, bao phen phong nhã nữa
Mở Sách Khôn Ngoan, Ca Điệu Sion
Với Job, Huấn Ca, Thánh Vịnh, Châm Ngôn
Một dòng chảy thơ Diễm Tình trăng mật

                           (Di sản. Câu 417-420)

Lê Đình Bảng đã “vịn vào thiên kinh, vạn quyển” của Kinh thánh: Sấm truyền (Cựu Ước), Lời các sách Tiên tri, Thi Thiên (Thánh vịnh) sách Sáng Thế, sách Xuất hành, sách Ai Ca (Lamentations), sách Thủ Lãnh, Sách Khôn Ngoan , Sách Job, Sách Huấn Ca, Thánh Vịnh, Sách Châm Ngôn, Sách Diễm Ca…

Và cội nguồn phương đông, cùng với văn học lễ hội dân gian trên khắp cả nước (Truyện Kiều, Ca dao, Hò khoan Ví dặm Nghệ An-Hà tĩnh, Sử thi Tây nguyên,…)

Lời của Sấm Truyền, Thánh Thi David
Trôi mãi về những nguồn ngọn phương Đông
Về những Kinh Thi, Lễ Nhạc phiêu bồng
Để nghe rõ tiếng hò khoan, ví dặm

Lên vách núi, hay lạc vô rừng cấm
Cồng chiêng ơi, hoa ban trắng Pơ lăng
Đêm nghe sử thi rộn khắp buôn làng
Trăng rớt xuống, ngủ quên ngoài bờ giậu

Nền đất bazan thắm son màu máu
Trời đã buồn, mưa, càng khiến  buồn hơn
Tự hỏi, mình còn mãi ở Babylon
Sao, bốn phía, biển gầm gào sóng vỗ

Là chút vu vơ, để quên, để nhớ
Nhìn tuần hương bay, là còn tín đồ
Cuả ba toà sen ngát thuở ban sơ
Của lễ Nguyên Tiêu, đầu năm, trăng giãi
             (Di sản. Câu 133…152)

Bằng cảm xúc, nên chẳng màng triết lý
Kho trời chung, tàng kinh các, truyện Kiều
Mật ngọt ca dao chảy vào mẹ yêu
Gửi hết ước mơ, rủi may, oan trái

                        (Di sản. Câu 485-488)

Thực ra, tìm ra nguồn thi liệu cả phương đông và phương tây không phải là điều quyết định phẩm chất thơ, mà là làm thế nào để biến nguồn thi liệu ấy trở thành thơ của riêng mình. Đó là tố chất của một thi nhân.

  1. Nhân vật Tôi/ Ta

            Nhật vật trung tâm làm nên trường ca Lê Đình Bảng là Tôi/ Ta. Tôi nhặt ra đây vài câu thơ để bạn đọc thử vẽ ra đôi nét về chân dung nhân vật này.

Xin lưu ý, nhân vật trong tác phẩm không phải là  con người xã hội của tác giả. Sự đồng nhất nhân thân xã hội của tác giả với nhân vật trữ tình trong tác phẩm luôn là một ngộ nhận, và rất dễ dẫn đến những quy kết võ đoán, nhiều khi gây ra oan nghiệt (tác phẩm trở thành vật chứng kết án tác giả). Nhân vật trong tác phẩm là nhân vật tư tưởng-thẩm mỹ, chứa đựng trong nó thế giới tinh thần, cái thần thái, cái tạng của tác giả và đã được nghệ thuật hóa (hư cấu).

Nhân vật Tôi trong trường ca Lê Đình Bảng có hình bóng đời sống thực của tác giả (“Văn là người”), thấp thoáng đôi nét quê hương, gia đình và đời sống lưu lạc, xa quê.

Nói cho đúng, nhân vật Tôi là phóng chiếu con người tinh thần của tác giả ở nhiều chiều kích. Đó là con người xã hội (với những đói rách, bức xúc, trầm luân, đi tìm đường sống), con người văn chương (với những mộng tưởng lãng mạn), con người tâm lý (những ẩn ức của Freud-ẩn ức về Mẹ, về nhân vật Em, về chính trị), con người tâm linh (tự cảm nhận đời mình trong tương quan với Chúa), có cả Cái Tôi- con người suy tư-tự tra vấn, tự phong (Ta là Ta; Tôi là tôi? Hay Judas, Barabbas?)…Nhưng cốt lõi là một nhà thơ mà hồn thơ vô cùng giàu có, tài hoa.

Nhân vật nhà thơ ấy kết nối làm nên linh hồn tất cả thơ Lê Đình Bảng. Nhà thơ ấy có một chút “thập tải phong trần” của Nguyễn Du (1786-1796), có trái tim hồn hậu của Tư Mã Giang Châu (Bạch Cư Dị, 772-846)  trên bến Tầm Dương. Có cái khoáng đạt ngao du của Lý Bạch (701-762) nhưng cũng có lúc “Về Côn Sơn, Bạch Vân am, sa mạc/ Ngắm bóng trăng suông hay nhìn ngón tay”(Những nốt trầm Jobbica, câu. 149)…và có lúc: “Trong đau đớn, lẫn nồng nàn cảm xúc/ Nhớ miên man, khi xuống ruộng, lên bờ/ Con nghé gọi trâu, gọi mẹ ngu ngơ/ Nghe rất rõ, khúc sông đêm, chảy xiết( Những nốt trầm Jobbica, câu 473-476). Cái Tôi/ Ta của Lê Đình Bảng có những khác biệt cơ bản với Cái Tôi trong thơ Lãng mạn trước 1945 và Cái Ta trong thơ kháng chiến sau 1945.

 Tôi ra đời, mẹ sảy thai, thiếu tháng
Ròng rã ba năm, ăn chực, bú rình
Khắp chốn tang thương, đói khổ, điêu linh

                      (Những nốt trầm Jobbica. Câu 619)

Hoa quả trái mùa, chín vàng chín vội
Tôi, đứa con hư của chợ, của làng
Theo bọn ăn mày, hành khất, cái bang
Trót mang tiếng là buông tuồng, mất nết

(Những nốt trầm Jobbica. Câu 623)

Quê tôi ở vùng hạ lưu sông Hoá
Nước miên man, cứ chảy suốt một dòng

             (Những nốt trầm Jobbica. Câu 1299)

Thuở còn nhỏ, mẹ dắt tay đi lễ
Là cõi thiêng liêng, sâu kín một đời
              (Những nốt trầm Jobbica. Câu 895)

Trang sách cũ ướp đầy hương tưởng tượng
Lần chuỗi Mân Côi, mùa nhớ, mùa vui
Ngồi quanh ổ rơm, chờ củ khoai lùi
Em có thả đèn trời lên với gió
               (Những nốt trầm Jobbica. Câu 1591)

Sông chảy miết, mỗi một luồng, một lạch
Ôi
, gã thương hồ miệt thứ quê lên
                  (Di sản. Câu 457)

Là chuyện động trời của thời tem phiếu
Là cuộc phần thư thảo khấu, điên cuồng
Những đêm về, ngồi buồn thảm, thê lương
Sau mỗi lênh đênh tìm đường, sống sót

            (Di sản. Câu 237)

Ta lạc loài như đất đá, rêu rong
Chịu sương giãi để cộng sinh, thừa tiếp

(Di sản. Câu 255)

Ta tắm mát giữa bốn mùa hoan hỷ
Trầm mình trong những hang vực, đầm lầy
Khắp hết bụi bờ, váng vất cỏ cây
Trong vách đá, dưới hầm sâu, thung lũng

                          (Di sản. Câu 153)

Lên vách núi, hay lạc vô rừng cấm
Cồng chiêng ơi, hoa ban trắng Pơ lăng
Đêm nghe sử thi rộn khắp buôn làng
Trăng rớt xuống, ngủ quên ngoài bờ giậu

                            (Di sản. Câu 137)

Tôi là tôi? Hay Judas phản bội
Là Barabbas, kẻ cướp gặp may

                          (Những nốt trầm Jobbica. Câu 971)

            Tôi là con cò, con vạc ăn đêm
Một mảnh thuyền nan, ngược dòng, đầu sóng
Ngồi bên bờ sông, hoài trông, tuyệt vọng
Babylon ơi, bến đỗ trần gian

(Những nốt trầm Jobbica. Câu 1111)

Tôi đã ngược xuôi, trăm ngàn thế kỷ
Nay trở về, là lúc đã tay không

(Di sản. Câu 872)

Chúa đến với tôi, như một dòng nước
Tựa đám mưa giông bất chợt, dịu hiền

            (Những nốt trầm Jobbica. Câu 635)

Cho con được trở về nơi Vườn Cấm
Được thung dung, giũ sạch những hồng trần
               (Di sản. Câu 509)

  1. Vài đặc điểm của trường ca Lê Đình Bảng.

Di sản và  Những nốt trầm Jobbica  đủ định hình những đặc điểm “thi pháp” của trường ca Lê Đình Bảng.

Về nghệ thuật thơ, Lê Đình Bảng giữ nguyên đặc điểm phong cách trong hai trường ca Di sản và  Những nốt trầm Jobbica. Trường ca sử dụng thể thơ 8 chữ quen thuộc của thơ Lãng mạn 1930-1945. Giọng thơ tự tình. Nhân vật chính (ngôi kể) là Tôi/ Ta (tác giả). Ngôn ngữ thơ là hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng. Chất liệu kết hợp điển ngữ Kitô giáo  tư tưởng phuông Đông, ngôn ngữ ca dao và hình ảnh đời sống thôn quê Việt. Một ý tưởng chính được triển khai (như kiển câu chủ đề), liền sau đó là và suy tưởng, liên tưởng, so sánh bay bổng, mở rộng biên độ qua những vùng miền văn hóa khác nhau.

Trường ca của Lê Đình Bảng không có một cấu trúc chặn chẽ. Nghĩa là không có cốt truyện, không có không gian, thời gian cố định. Không có mạch kể truyện kết nối những biến cố, những tình huống, những hoàn cảnh để phát triển chủ đề và nhân vật. Nhân vật chính là Tôi, Ta (tác giả). Tôi kể lể, tự tình, tự đối thoại với mình, đối thoại với nhân vật Em (nhân vật tưởng tượng) và trò chuyện với Chúa. Vì thế, nếu gọi đúng tên, thì trường ca của Lê Đình Bảng là Tùy bút viết bằng thơ. Tác giả trình bày những vấn đề suy tư, rồi miên man nghĩ ngợi, miên man liên tưởng so sánh, miên man đi qua những vùng trời khác nhau của cảm xúc và trí tưởng.

Người đọc có cảm giác trường ca của Lê Đình Bảng không có điểm dừng. Ông có thể viết tiếp bao nhiêu khổ thơ cũng được, tùy theo ngẫu hứng bất chợt. Dù vậy, trường ca Lê Đình Bảng có thể đứng được vì nó chứa đựng những suy tư, những nung nấu, những trải nghiệm và diễn ngôn tâm huyết của nhà thơ.

Chẳng hạn. Viết về thơ, nhưng có lúc Lê Đình Bảng kể lại tiểu sử lúc nhỏ của mình, không liên can gì đến thơ:

Tôi ra đời, mẹ sảy thai, thiếu tháng
Ròng rã ba năm, ăn chực, bú rình
Khắp chốn tang thương, đói khổ, điêu linh
Những mẹ vú nuôi từng ngày đắp đổi

Hoa quả trái mùa, chín vàng chín vội
Tôi, đứa con hư của chợ, của làng
Theo bọn ăn mày, hành khất, cái bang
Trót mang tiếng là buông tuồng, mất nết

                    (Những nốt trầm Jobbica. Câu 619…626)

Hoặc đang nói chuyện thơ, tác giả tách mình ra nói chuyện riêng với em:

Về phương ấy, tháng Ba, hoa gạo nở
Tàu em đi, ngang qua những đồng bưng
Những bãi bờ xanh, lau cói rung rung
Đâu cũng thấy lúa ngoi lên, lấm láp

Những hàng dứa, ai trồng, nghiêng cúi rạp
Theo xuồng ra, cơn lũ lớn rửa đồng
Nghe chuông chiều về xóm lưới, thinh không
Hay theo nước ròng, theo ghe lưới cá

Cứ dong ruổi một đời thôi, em ạ
Từng canh khuya, nghe đất cũng trở mình
Lòng bảo lòng, thôi, cam phận điêu linh
Đi bên dưới hàng cây sao rụng lá

Qua lớp cỏ may lô xô gò mả
Như bảo rằng hãy đỗ bến, nghỉ ngơi
Đôi mắt thuyền em, xanh biếc da trời
Như sông lấp, sông bồi, ai hiểu được

            (Những nốt trầm Jobbica. Câu 441…453)

Hoặc, nhà thơ dừng mạch đối thoại, mạch kể để hướng vào lòng mình mà cầu nguyện

Riêng. Xin chú ý đến tâm tình tạ ơn và điều tác giả cầu xin Chúa:

Tạ ơn Chúa, trong từng hơi con thở
Từng cơn mê, mỗi nhịp đập trái tim
Ngọn tóc nào rơi, sợi chỉ, cây kim
Cây lau giập, cái tim đèn lên khói

Trong lặng thinh, con thèm nghe tiếng gọi
Này, con đây. Xin dìu dẫn con đi        

Sớm tinh mơ đến nắng xế, tà huy
Lúc giao chiến, hay đồn binh hạ trại

                                    (Những nốt trầm Jobbica. Câu 935…942)

Có thể lý giải thế này, Lê Đình Bảng chọn kiểu Tùy bút thơ Lãng mạn để viết trường ca là để mặc sức phô diễn cảm súc suy nghĩ, tránh diễn ngôn về những vấn đề thực tại và giữ kín những điều riêng tư “Sống để bụng, chết mang theo”. Khi viết, ông thong dong liên tưởng khắp bầu trời mặt đất, đầu ghềnh cuối bãi, từ khởi thủy đến thiên thu.

 Những câu, chữ rưng rưng đầy nước mắt
Chết mang theo, dù nhẹ bấc, rạ rơm
Giữa chợ đời, hoa vẫn nở, vẫn thơm
Có những thứ trót hẹn lòng, để bụng

              (Những nốt trầm Jobbica. Câu 413-416.)

Nhờ những liên tưởng miên man, Lê Đình Bảng dẫn người đọc đi qua nhiều vùng cảm

Xúc khác nhau, tạo nên sự phong phú màu sắc thẩm mỹ. Với tư cách chủ thể diễn ngôn, Lê Đình Bảng bày tỏ thái độ đầy phẫn nộ với “lũ con buôn đón gió chạy cờ” trong làng thơ, bức xúc vì những” Cái vòng kim cô, sợi dây thòng lọng”” Của bọn theo thời,…”. Người đọc cùng đau xót với những nỗi điêu linh trong hành trình nhà thơ đi tìm đường sống, đi tìm con đường cho thơ. Nhà thơ cũng truyền cảm xúc bình an, ấm áp, đầy ắp tin yêu cho người dọc khi ông “tựa sát và gục đầu vào Chúa/ Để thầm nghe tim máu thở rộn ràng”, và cùng với Em đi qua những miền quê hoa mộng ngọt ngào “Những bãi bờ xanh, lau cói rung rung/ Đâu cũng thấy lúa ngoi lên, lấm láp…”. Và đọng lại ở những suy tư sâu sắc về thơ: Thơ rợp bóng như Nước trời (Dụ ngôn Nước trời như hạt cảiMt 13, 31-32) .

Thơ là khải huyền, ngất trí, tiêu diêu

Cây cải xum xuê, chim trời trú ngụ

               (Những nốt trầm Jobbica. Câu 435-436)

  1. Bắc thêm một nhịp cầu

            Theo nhà thơ Đỗ Quyên (Canada), có 387 tác giả Việt Nam viết trường ca và kho tàng trường ca Việt đương đại có 906 tác phẩm [[10]]. Đỗ Quyên cũng cho biết, chưa có một tiêu chí nhất định, có tính học thuật về thể loại về trường ca, dù trường ca đã có một lịch sử và đã phát triển thành trào lưu. Huy Thông đã viết trường ca Tiếng địch sông Ô (1935). Trường ca phát triển ào ạt sau 1975 (trong thời gian khoảng 10 năm)[[11]].

Ngoại trừ truyện thơ Nôm, và Sử thi Tây Nguyên là thể loại có đặc điểm riêng, ở góc nhìn cá nhân, tôi thấy “Trường ca” cũng có những đặc điểm chung:  trường ca có độ dài hàng trăm câu thơ trong một bài, liền mạch chủ đề, liền mạch về cảm hứng sáng tạo. Ít nhất có một nhân vật trung tâm làm ngôi trần thuật (kể chuyện) hay bày tỏ tình cảm (tự tình, suy tư). Tác giả thường là nhân vật trung tâm, kết nối các yếu tố tạo nên tác phẩm. Trường ca có thể có một cốt truyện chặt chẽ hoặc có một cấu trúc nội dung tương đương với một cốt truyện để bảo đảm tính chất của một tác phẩm. Về thể thơ, Trường ca có thể là thơ Lục bát, thơ 7, 8 chữ, thơ tự do, thơ Hậu Hiện đại…

Được nhắc đến nhiều là các trường ca Bài ca chim chơ rao (Thu Bồn), Dấu chân qua trảng cỏ (Thanh Thảo), Đường tới thành phố, Trường ca Biển (Hữu Thỉnh). Khoảng trời hố bom (Lâm Thị Mỹ Dạ). Đỗ Quyên viết trường ca Lòng hải lý bằng bút pháp Hậu Hiện đại…

Cho đến nay (2026), nhà thơ Lê Đình Bảng cũng đã có 8 trường ca (theo cách định danh của tác giả) góp vào trường ca Việt, đó là: Di sản (939 câu), Nhật Nguyệt Hành (545 câu), Thác lời cỏ hoa (170 khổ thơ), Những nốt trầm Jobbica (1614 câu), Nghêu ngao hát thương hồ (127 khổ thơ), Ca dao mẹ (130 khổ thơ), Bản Tango với Chúa (49 khổ thơ), Đồng dao (26 khổ thơ)… quả là một kho tàng đồ sộ.

Điều mới mẻ của trường ca Lê Đình Bảng là sự kiến tạo các trường ca Công giáo mà hạt nhân là tư tưởng Mỹ học Kitô giáo kết hợp với văn hóa Việt truyền thống và tư tưởng Mỹ học phương đông. Những trường ca này phản ánh một mảng hiện thực riêng của đời sống và văn hóa Công giáo trên đất Việt, góp phần làm giàu có nội dung thi ca Việt.

Nói riêng quan niệm về thơ, Lê Đình Bảng cũng có những đóng góp làm phong phú thêm kho lý luận về thơ mà các nhà thơ đi trước đã xây dựng.

Xuân Diệu nói về nhà thơ Lãng mạn: “Làm thi sĩ nghĩa là ru với gió/ Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” (Cảm xúc, trong tập Thơ Thơ, năm 1938).

Hàn Mạc Tử trong thư gửi Trọng Miên năm 1939 khẳng định:“Cho nên tất cả thi sĩ trong đời phải qui tụ, phải đi khơi mạch thơ ở Đức Chúa Trời. Thi sĩ không phải là một người thường. Với một sứ mệnh của Trời thi sĩ phải biết đem cái tài năng ra ca ngợi Đấng Chí Tôn, và làm cho người đời thấy rõ vẽ đẹp của thơ…”,

Sau khi đã phản bác các nhà thơ Lãng mạn, Sóng Hồng nói về nhiệm vụ xã hội của thơ ca Cách mạng: “Dùng bút làm đòn chuyển xoay chế độ,/ Mỗi vần thơ: bom đạn phá cường quyền”(Là thi sĩ. 1942).

Các nhà thơ Hậu Hiện đại làm thơ theo tư tưởng và thủ pháp Hậu hiện đại, chẳng hạn, thơ phá vỡ cấu trúc truyền thống (bài thơ không có cấu trúc, không nhân vật, không thời gian, không không gian). Thơ có những yếu tố ngẫu nhiên, hoang tưởng. Giễu nhại hoặc vòng lặp được sử dụng như thủ pháp “Giải thiêng”. Cái Đẹp không còn là tư tưởng Mỹ học của thơ. Có người làm Thơ Rác, Thơ Dơ, Thơ Nghĩa địa, Thơ không thơ. Mọi từ ngữ đều bình đẳng, không có từ thanh, từ tục, từ bác học, hay từ bình dân (vì thế trong thơ Hậu hiện đại, có thể có nhiều từ rất tục mà thơ truyền thống không bao giờ đụng đến…)

Không thể có một định nghĩa vừa chứa đựng được bản thể của thơ, lại vừa miêu tả được mọi sắc thái của thơ. Thơ được định nghĩa tùy theo góc nhìn và mục đích của người làm thơ. Thơ con cóc của Lê Thánh Tôn khác biệt rất xa với Thơ Con Cóc dân gian. Nhưng để phân biệt rạch ròi “thơ” và “không thơ”; “thơ hay” và “thơ dở” là điều không dễ dàng.

Tất nhiên Lê Đình Bảng làm thơ theo những nguyên tắc thẩm mỹ và thi pháp truyền thống trong thơ Việt. Thơ Lê Đình Bảng đậm chất Tùy bút lãng mạn. Ý tưởng “Tôi làm thơ nghĩa là tôi cầu nguyện” của Lê Đình Bảng có thể xuất phát từ Hàn Mạc Tử: “Thơ cầu nguyện là thơ quân tử ý”…(Ave Maria). Nhưng Lê Đình Bảng có những khám phá và đóng góp mới mẻ về thơ Công giáo, cũng đồng thời góp phần làm mới thơ Việt.

Chẳng hạn, Lê Đình Bảng khai thác chất liệu Kinh thánh:

Có lúc, lâm cảnh hàn vi, cùng quẫn
Vịn vào thiên kinh, vạn quyển – Sấm Truyền
Lời vàng tiên tri, tổ phụ, Thi Thiên
Sáng Thế, Xuất Hành, Ai Ca, Thủ Lãnh

                        (Di sản. Câu 409-413)

Thơ còn hẹn, bao phen phong nhã nữa
Mở Sách Khôn Ngoan, Ca Điệu Sion
Với Job, Huấn Ca, Thánh Vịnh, Châm Ngôn
Một dòng chảy thơ Diễm Tình trăng mật

                           (Di sản. Câu 417-420)

            Đặc biệt Lê Đình Bảng khai thác vốn văn hóa, lễ hội ở làng quê Công giáo kết hợp với tục ngữ, ca dao và cách nói bình dân. Lê Đình Bảng cũng khám phá thêm vốn hình ảnh, từ ngữ mới và làm mới điển ngữ thơ Trung đại khiến cho ngôn ngữ quen thuộc trở nên mới lạ.

Những câu, chữ rưng rưng đầy nước mắt
Chết mang theo, dù nhẹ bấc, rạ rơm
Giữa chợ đời, hoa vẫn nở, vẫn thơm
Có những thứ trót hẹn lòng, để bụng

Nhưng tất cả là tuần hương, cầu cúng
Một đêm thôi, mở mắt, đã rực vàng
Chiều lên non, tay gõ nhịp tình tang
Làm của lễ đầu mùa, dâng tiến Chúa
                  (Những nốt trầm Jobbica. Câu 413…420)

Một điều rất dễ nhận ra là, vốn từ tiếng Việt của Lê Đình Bảng thật giàu có. Ông đã in

nhiều tập thơ nhưng rất ít lặp lại từ ngữ, ý tứ đã viết trước đó. Thơ Lê Đình Bảng tự nhiên như hơi thở, đặc biệt là thơ Lục bát. Xin đọc hai trường ca: Nghêu ngao hát thương hồ (508 câu) và Thác lời cỏ hoa (680 câu). Ai cũng biết làm thơ Lục bát rất dễ nhưng cũng thật khó. Nếu thiếu vốn từ thì không thể làm nổi một bài Lục bát 20 câu đúng thi luật. Thơ Lục bát hay thơ 8 chữ của Lê Đình Bảng không chỉ chuẩn mực về thi luật mà còn lấp lánh chất tài hoa.

Như đất, nước, làng quê ta hiền hậu
Và đôi chân theo quang gánh tang bồng
Mong sao thơ chảy mãi mãi, là sông
Chở trăm chuyến những dạt dào ngôn ngữ…

                      (Di sản. Câu 357-360)

Xin chia sẻ đôi điều tôi lượm nhặt được bước đầu đọc trường ca của Lê Đình Bảng.

Tháng 01/ 2026

 

[1] Xem. Bùi Công Thuấn-Trò chuyện với nhà thơ Lê Đình Bảng

[2] Nguyễn Huy Thiệp-Trò chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà văn.

  Nguồn:Tạp chí Ngày Nay, Hà Nội, số 6, 15.3.2004

[3] Thông báo của Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam về Giải thưởng Tác giả trẻ. Chiều ngày 20/01/2026.

[4] Khuất Bình Nguyên-Phùng Quán Thơhttps://vanvn.vn/phung-quan-tho/

[5] Thơ Phùng Quán, (Lời thủ bút. Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 1995)

[6] Bùi Công Thuấn-Chút tình tri âm. Nxb HNV. 2009

[7] Hoàng Hưng-Vụ án “Về Kinh Bắc”, một sự kiện “Hậu Nhân văn”. https://www.talawas.org/24264/

[8] Hoàng Cầm , Về Kinh Bắc (1959-1960) ( phần Vĩ thanh ), Talawas 5.4.200730

[9] Nguyễn Du-Tạp thi-kỳ 1: https://www.thivien.net/Nguy%E1%BB%85n-Du/T%E1%BA%A1p-thi-k%E1%BB%B3-1/poem-0L2J5koEC7p3UQ-NaNe30w

[10] Buffon – Sur le stylehttps://dixitologie.fr/article/buffon-sur-le-style/

[11] Đỗ Quyên: Trường ca Việt Nam-Tác giả và tác phẩm (2011)

http://vanhoanghean.com.vn/chi-tiet-tin-tuc/3331-truong-ca-viet-nam-tac-gia-va-tac-pham

[12] Hoài Nam: Dấu hỏi trường ca trong văn học Việt

[13] Lê Đình Bảng: Thư viết cho BCT ngày 26/01/2026 nhân đọc bài viết “Lê Đình Bảng-Trường ca về thơ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

[1] Xem. Bùi Công Thuấn-Trò chuyện với nhà thơ Lê Đình Bảng

https://buicongthuan.wordpress.com/2026/01/23/tro-chuyen-voi-nha-tho-le-dinh-bang/

[2] Nguyễn Huy Thiệp-Trò chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà văn.

  Nguồn: Tạp chí Ngày Nay, Hà Nội, số 6, 15.3.2004

[3] Thông báo của Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam về Giải thưởng Tác giả trẻ. Chiều ngày 20/01/2026.

Thông báo của Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam về Giải thưởng Tác giả trẻ

[4] Khuất Bình Nguyên-Phùng Quán Thơ. https://vanvn.vn/phung-quan-tho/

[5] Thơ Phùng Quán, (Lời thủ bút. Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 1995)

[6] Bùi Công Thuấn-Chút tình tri âm. Nxb HNV. 2009

[7] Hoàng Hưng-Vụ án “Về Kinh Bắc”, một sự kiện “Hậu Nhân văn”. https://www.talawas.org/24264/

[8] Hoàng Cầm , Về Kinh Bắc (1959-1960) ( phần Vĩ thanh ), Talawas 5.4.2007

[9] Nguyễn Du-Tạp thi-kỳ 1: https://www.thivien.net/Nguy%E1%BB%85n-Du/T%E1%BA%A1p-thi-k%E1%BB%B3-1/poem-0L2J5koEC7p3UQ-NaNe30w

[10] Đỗ Quyên: Trường ca Việt Nam-Tác giả và tác phẩm (2011)

http://vanhoanghean.com.vn/chi-tiet-tin-tuc/3331-truong-ca-viet-nam-tac-gia-va-tac-pham

[11] Hoài Nam: Dấu hỏi trường ca trong văn học Việt

Dấu hỏi trường ca trong văn học Việt